CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái niệm về phân hữu cơ Phân hữu cơ là loại sản phẩm phân bón được tạo thành thông qua quá trình sử dụng vi sinh vật phân huỷ các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc khác nhau (phế thải nông nghiệp, lâm nghiệp, phế thải chế biến nông sản, rác thải sinh hoạt…). Các hợp chất hữu cơ phức tạp dưới tác động của vi sinh vật hoặc các hoạt chất sinh học được chuyển hóa thành mùn (Lương Đức Phẩm, 2012).
Theo quy định chỉ tiêu định lượng bắt buộc đối với phân hữu cơ: độ ẩm của phân dạng bột ≤ 25 %, hàm lượng hữu cơ tổng số ≥ 22 %, hàm lượng đạm tổng số (Nts) ≥ 2,5 %; đối với phân hữu cơ sinh học: độ ẩm phân dạng bột ≤ 25 %, hàm lượng hữu cơ tổng số (OM) ≥ 22 % ( hàm lượng OC ≥ 13 %), hàm lượng đạm tổng số (Nts) ≥ 2,5 %, hàm lượng axit Humic (đối với phân chế biến từ than bùn) ≥ 2,5 % (Nguyễn Thanh Hiền, 2003). Hàm lượng dinh dưỡng được chấp nhận và định lượng bắt buộc đối với các yếu tố trong phân bón có chứa hữu cơ được quy định: hàm lượng hữu cơ ≥ 80 % và hàm lượng một yếu tố đa lượng Nts hoặc P2O5 hh hoặc K2O hh đối với phân bón hữu cơ khoáng ≥ 90% so với chỉ số đăng ký (Nguyễn Thanh Hiền, 2003). Phân bón hữu cơ, hữu cơ khoáng, hữu cơ vi sinh, hữu cơ sinh học sản xuất từ nguyên liệu là rác thải đô thị, từ phế thải công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, phế thải chăn nuôi, phân bón lá có nguồn gốc hữu cơ: hàm lượng Asen (As) ≤ 3,0 mg/kg hoặc ppm, hàm lượng Cadimi (Cd) ≤ 2,5 mg/kg hoặc ppm, hàm lượng Chì (Pb) ≤ 3,0 mg/kg hoặc ppm, hàm lượng Thuỷ ngân (Hg) ≤ 2,0 mg/kg hoặc ppm, mật độ Vi khuẩn Salmonella không phát hiện trong 25g mẫu kiểm tra (CFU) (Nguyễn Thanh Hiền, 2003). Các phương pháp ủ phân hữu cơ 1.
Mục đích quá trình ủ - Làm ổn định thành phần chất thải: Chất thải hữu cơ khi được đưa vào môi trường sẽ còn được chuyển hoá liên tục, vì thế nó chưa ổn định. Quá trình lên men sẽ làm ổn định chúng bằng những phản ứng sinh hoá. Sản phẩm cuối cùng của quá trình sẽ được ổn định trước khi ta sử dụng chúng. - Tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh: Trong rác thải thường chứa rất nhiều vi sinh vật gây bệnh, các loại vi sinh vật này thường bị tiêu diệt ở nhiệt độ 45 - 600C trong khoảng thời gian ngắn.
- Chất dinh dưỡng được chuyển hóa: Các chất dinh dưỡng (N, P, K) có mặt trong chất thải thường được nằm ở dạng hữu cơ. Sau quá trình lên men các chất dinh dưỡng này sẽ được chuyển hoá thành các hợp chất vô cơ rất thích hợp cho cây trồng. Các chất này thường được chuyển hoá thành dạng NO3 hay P2O5. Sản phẩm sau chuyển hoá khi bón cho cây trồng sẽ làm tăng chất lượng cho đất và có lợi cho cây trồng.
Cây trồng không sử dụng nitơ ở dạng hữu cơ mà chỉ sử dụng nitơ ở dạng vô cơ (Lương Đức Phẩm, 2012). Các phương pháp làm phân ủ Quá trình ủ các chất thải hữu cơ là một quá trình sinh học phân huỷ chất thải hữu cơ và ổn định các thành phần cuối cùng của chúng dưới tác dụng của các loại vi sinh vật ưa nhiệt. Có 2 kiểu ủ: ủ hiếu khí và ủ yếm khí (Nguyễn Thanh Hiền, 2003). Ủ hiếu khí: Là quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ nhờ vi sinh vật với sự có mặt của oxi.
Trừ các chất như chất dẻo, chất cao su còn có các chất hữu cơ khác chứa protein, lipit, xenluloza, hemi-xenluloza. đều chuyển hoá chúng trong quá trình lên men. Quá trình lên men này sẽ tạo ra sản phẩm lên men chính là mùn. Những vi sinh vật này sẽ sinh sôi nảy nở và chết đi trong một 8 chu kỳ rất ngắn, để lại phần xác giàu đạm và nhiều chất dinh dưỡng cho cây xanh.
Những chất đó cũng là nguồn dinh dưỡng cho các vi sinh vật trong đất để sinh sôi nảy nở. Các vi sinh vật và các enzim được tạo ra sẽ phân huỷ thêm các chất hữu cơ trong đất và tạo ra các chất dinh dưỡng tương tự. Dưới điều kiện ủ hiếu khí các vi sinh vật có khả năng sử dụng oxy sẽ phân hủy các hợp chất hữu cơ, đồng hóa một số cacbon, nitơ, photpho, sunphua và một số chất dinh dưỡng khác để tổng hợp nên sinh khối. Quá trình ủ hiếu khí có thể tóm tắt như sau: - Đường, xenluloza, hemixenluloza: (CH2O)x+ O → xCO2+ H2O + E - Protein (nitơ hữu cơ): NH3 → NO2- → NO3- + E - Sunphua dạng hữu cơ: S+ O2 → SO42- - Photphat dạng hữu cơ: H3PO4 → Ca (HPO4)2 Phương pháp ủ hiếu khí được chia ra làm nhiều phương pháp khác nhau.
Ủ thành đống lên men tự nhiên có đảo trộn: Đống ủ được chất thành từng đống có chiều cao khoảng 1,5m mỗi tuần đảo trộn 2 lần. Nhiệt độ trong đống ủ khoảng 550C, thời gian khoảng 4 tuần, độ ẩm 50-60%. Sau 3-4 tuần không đảo trộn nữa. Phương pháp đơn giản nhưng mất vệ sinh, gây ô nhiễm nguồn nước và không khí.
Ủ thành đống lên men không đảo trộn có thổi khí: Chất thải được chất thành đống cao 2-2,5m phía dưới được lắp đặt một hệ thống phân phối khí. Nhờ có quá trình thổi khí cưỡng bức mà các quá trình chuyển hoá diễn ra được nhanh hơn, nhiệt độ ổn định hơn, ít ô nhiễm. Ủ hiếu khí có ưu điểm là dễ kiểm soát, đem lại hiệu quả xử lý và bảo vệ môi trường tốt hơn so với biện pháp chôn lấp, ty nhiên phương pháp này đòi hỏi có vốn đầu tư lớn. Ủ yếm khí Là quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ dưới tác dụng của vi sinh vật mà không cần đến sự có mặt của oxi.
Các vi sinh vật không hoạt động trong đất và nước, nơi có oxy tự do, mà chỉ hoạt động mạnh trong môi trường thiếu oxy tự do. Các vi khuẩn này có đặc tính sinh lý rất đặc trưng. Chúng hô hấp bằng oxy lấy từ các chất bị oxy hoá. Trong quá trình phân huỷ yếm khí, nhiệt độ lên men không vượt quá 450C.
Các axit hữu cơ như axit lăctic, axit sunfuric và khí mêtan (CH4) được tạo ra trong điều kiện lên men yếm khí. Những chất này có hại cho cây trồng vì chúng làm yếu hoặc hạn chế sự phát triển của rễ. Có một số loại vi khuẩn có ích trong số các vi khuẩn yếm khí nhưng nhìn chung là chúng có hại cho thiên nhiên và nông nghiệp. Nhược điểm của phương pháp này là thời gian ủ kéo dài, tốn diện tích bề mặt khó kiểm soát lượng nước thải rỉ ra từ các đống rác.
Ngoài nước thải ra người ta còn quan tâm đến khí thải phát sinh điển hình là CH4, CO2, H2S, NH3… Các khí này cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực đống ủ. Dưới điều kiện yếm khí: Vi sinh vật sinh axit sẽ phân hủy chất hữu cơ thành các axit béo và các sản phẩm trung gian khác. Sau đó nhóm vi sinh vật khác sẽ chuyển tiếp thành khí metan, ammoniac, cacbonic và hydro. Oxi cũng cần cho quá trình ủ yếm khí nhưng ở dạng các chất hóa học.
Các vi sinh vật cũng sử dụng nitơ, photpho và các chất dinh dưỡng khác để xây dựng cơ thể với lượng sinh khối ít hơn. Trong quá trình ủ yếm khí sự phân hủy các hợp chất hữu cơ là không hoàn toàn do đó sinh ít khí CO2 nhưng lại sinh ra nhiều sản phẩm trung gian như axit hữu cơ, ammoniac, sự đồng hóa các bon của vi sinh vật giảm do vậy sinh ra khí metan, và H2S. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ủ phân hữu cơ - Nhiệt độ: Nhiệt trong khối ủ là sản phẩm phụ của sự phân hủy các hợp chất hữu cơ bởi vi sinh vật, phụ thuộc vào kích thước của đống ủ, độ ẩm, không khí và tỷ lệ C/N, mức độ xáo trộn và nhiệt độ môi trường xung quanh. Nhiệt độ trong hệ thống ủ không hoàn toàn đồng nhất trong suốt quá trình ủ, phụ thuộc vào lượng nhiệt tạo ra bởi các vi sinh vật và thiết kế của hệ thống.
Nhiệt độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt tính của vi sinh vật trong quá trình chế biến phân hữu cơ và cũng là một trong các thông số giám sát và điều khiển quá trình ủ CTR. Trong luống ủ, nhiệt độ cần duy trì là 55÷650C, vì ở nhiệt độ này, quá trình chế biến phân vẫn hiệu quả và mầm bệnh bị tiêu diệt. Khi nhiệt độ tăng trên ngưỡng này sẽ ức chế hoạt động của vi sinh vật. Ở nhiệt độ thấp hơn, phân hữu cơ không đạt tiêu chuẩn về mầm bệnh (Lương Đức Phẩm, 2012).
- Độ ẩm: Độ ẩm (nước) là một yếu tố cần thiết cho hoạt động của vi sinh vật trong quá trình chế biến phân hữu cơ. Vì nước cần thiết cho quá trình hòa tan chất dinh dưỡng vào nguyên sinh chất của tế bào. Độ ẩm tối ưu cho quá trình ủ phân CTR nằm trong khoảng 50÷60%. Các vi sinh vật đóng vai trò quyết định trong quá trình phân hủy CTR thường tập trung tại lớp nước mỏng trên bề mặt của phân tử CTR.
Nếu độ ẩm quá nhỏ (< 30%) sẽ hạn chế hoạt động của vi sinh vật, còn khi độ ẩm quá lớn (> 65%) thì quá trình phân hủy sẽ chậm lại, sẽ chuyển sang chế độ phân hủy kỵ khí vì quá trình thổi khí bị cản trở do hiện tượng bít kín các khe rỗng không cho không khí đi qua, gây mùi hôi, rò rỉ chất dinh dưỡng và lan truyền vi sinh vật gây bệnh. Độ ẩm ảnh hưởng đến sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình ủ vì nước có nhiệt dung riêng cao hơn tất cả các vật liệu khác (Lương Đức Phẩm, 2012). - Kích thước chất thải: Kích thước chất thải ảnh hưởng lớn đến tốc độ phân hủy. Quá trình phân hủy hiếu khí xảy ra trên bề mặt, chất thải có kích 11 thước nhỏ sẽ có tổng diện tích bề mặt lớn nên sẽ tăng sự tiếp xúc với oxy, gia tăng vận tốc phân hủy.
Tuy nhiên, nếu kích thước chất thải quá nhỏ và chặt làm hạn chế sự lưu thông khí trong đống ủ, điều này sẽ làm giảm oxy cần thiết cho các vi sinh vật trong đống ủ và giảm mức độ hoạt động của vi sinh vật.