Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản * Môi trường là gì? - Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật. - Theo UNESCO (1981) [22], môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người”. - Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Bộ TN&MT, 2015 [3]).
* Ô nhiễm môi trường: - Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với Quy chuẩn kĩ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Bộ TN&MT, 2015 [3]). - Ô nhiễm môi trường chăn nuôi là khái niệm để chỉ môi trường chăn nuôi và môi trường xung quanh bởi những sản phẩm thải của quá trình chăn nuôi. - Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi về chất lượng và làm nhiễm bẩn nguồn nước gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí và ảnh hưởng mạnh đến các sinh vật (Bộ TN&MT, 2015 [3]). 5 - Nước bị ô nhiễm vi sinh vật: Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải bệnh viện… Để đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm sinh học thì người ta sử dụng chỉ số Coliform.
Đây là chỉ số phản ánh số lượng vi khuẩn Coliform có trong nước, thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng để biểu hiện sự ô nhiễm nước bởi tác nhân sinh học. Ô nhiễm nước được xác định theo các giá trị tiêu chuẩn môi trường. - Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho nông nghiệp, công nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã (Hiến chương Châu Âu, 1999 [11]). - Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980: Nước thải là nước được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra qua một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó.
Các văn bản có liên quan - Điều 69 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 quy định việc bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp. - Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012. - Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04/9/2014 của Thủ tướng chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020.
Trong đó về xử lý chất thải chăn nuôi, các hộ sẽ được hỗ trợ một lần đến 50% giá trị xây công trình khí sinh học xử lý chất thải chăn nuôi với mức hỗ trợ không quá 5 triệu đồng/1 công trình/1 hộ. Được hỗ trợ một lần đến 50% giá trị làm đệm lót sinh học xử lý chất thải chăn nuôi, mức hỗ trợ không quá 5 triệu đồng/1 hộ. 6 - Quyết định số 3194/QĐ-BNN-CN ngày 11/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn kỹ thuật lắp đặt, sử dụng công trình khí sinh học nắp cố định, công trình khí sinh học bằng vật liệu composite và quy trình kỹ thuật sử dụng chế phẩm sinh học làm đệm lót sinh học chăn nuôi lợn, gà. - Thông tư số 04/2010/TT-BNN&PTNT ngày 15/01/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định về ban hành Quy chuẩn quốc gia về điều kiện trang trại chăn nuôi lợn, chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.
Ban hành kèm theo QCVN 01- 14:2010/BNNPTNT Quy chuẩn quốc gia về điều kiện nuôi lợn an toàn sinh học, QCVN 01- 15: 2010/BNNPTNT Quy chuẩn quốc gia về điều kiện chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học. - Thông tư số 04/2016/TT-BTNMT ngày 29/4/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi. Ký hiệu: QCVN 62-MT:2016/BTNMT. - Thông tư số 40/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp.
Ký hiệu: QCVN 40:2011/BTNMT. - Quyết định số 3197/2016/QĐ-UBND ngày 30/9/2016 của UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành quy định chi tiết một số nội dung và mức hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 50/2014/QĐ-TTG ngày 04/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 2309/2017/QĐ-UBND ngày 16/6/2017 về việc sử đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 3197/2016/QĐ- UBND ngày 30/9/2016. Cơ sở thực tiễn 1. Một số vấn đề môi trường nảy sinh trong hoạt động chăn nuôi ở nước ta Những năm qua, chăn nuôi có sự tăng trưởng nhanh cả về quy mô và giá trị.
Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại, thì chăn nuôi cũng đang nảy sinh rất 7 nhiều vấn đề về chất lượng môi trường, đe dọa sức khỏe của cộng đồng dân cư địa phương và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên. Số lượng lợn phân theo các vùng của Việt Nam (Đơn vị: 1000 con) Năm 2012 2013 2014 2015 2016 Cả nước 26.075,3 Đồng bằng sông Hồng 6.414,4 Trung du và miền núi phía Bắc 6.175,5 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 5.420,6 Đồng bằng sông Cửu Long 3.803,0 Quảng Ninh 330,5 332,0 340,7 356,9 374,5 (Nguồn: Tổng cục thống kê, 2018)[20] Theo thống kê năm 2010 của Cục Chăn nuôi, cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung. Với tổng đàn 300 triệu con gia cầm và hơn 37 triệu con gia súc, nguồn chất thải từ chăn nuôi ra môi trường lên tới 84,45 triệu tấn. Trong đó, nhiều nhất là chất thải từ lợn (24,96 triệu tấn), tiếp đến gia cầm (21,96 triệu tấn) và bò (21,61 triệu tấn).
Lượng phân thải ra ngoài của các loại vật nuôi STT Loại vật nuôi Lượng phân thải mỗi ngày (% thể trọng) 1 Lợn 6,00 - 7,00 2 Bò sữa 7,00 - 8,00 3 Bò thịt 5,00 - 8,00 4 Gà 5,00 (Nguồn: Nguyễn Thanh Sơn và cs, 2006)[19] 8 Qua đây, ta thấy số lượng vật nuôi càng lớn thì lượng chất thải thải ra ngoài môi trường càng nhiều. Đây cũng chính là vấn đề đáng lo ngại cho môi trường hiện nay. Tuy nhiên, việc quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lại chưa được quan tâm đúng mức. Hiện mới khoảng 70% hộ chăn nuôi có chuồng trại, tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm khoảng 10%; hộ có công trình khí sinh học (hầm Biogas) chỉ đạt 8,7%; khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi.
Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có cam kết bảo vệ môi trường chỉ chiếm 0,6%. Về phía các trang trại chăn nuôi tập trung, mặc dù phần lớn đã có hệ thống xử lý chất thải nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để, số trang trại chăn nuôi có hệ thống xử lý chất thải bằng Biogas khoảng 67%; số trang trại có đánh giá tác động môi trường chiếm chưa đầy 14%; 37,2% hộ chăn nuôi thâm canh và 36,2% chăn nuôi thời vụ không có biện pháp xử lý chất thải. Tình trạng trên đã gây ra ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất, nước, không khí ở nông thôn. Ước tính, hiện có tới 80% các bệnh nhiễm trùng ở nông thôn có liên quan tới nguồn nước bị nhiễm vi sinh vật như giun sán, tả, bệnh ngoài da, mắt… Nguyên nhân chủ yếu do hầu hết người chăn nuôi chưa có biện pháp xử lý chất thải lỏng trong chăn nuôi, vứt xác gia cầm, gia súc bừa bãi và hệ thống thoát nước đơn giản làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi vẫn chưa được khắc phục triệt để và có chiều hướng gia tăng.
Nhiều năm qua, chất thải vật nuôi trong nông hộ được xử lý bằng 3 biện pháp chủ yếu là: thải trực tiếp ra kênh mương, ao, hồ; được ủ làm phân bón cho cây trồng; và được xử lý bằng công nghệ khí sinh học (Biogas). Ngoài ra, còn có một số phương pháp khác như xử lý chất thải bằng sinh vật thủy sinh (cây muỗi nước, bèo lục bình…), xử lý bằng hồ sinh học nhưng chưa được nhân rộng (Nguyễn Tuấn Dũng, 2012 [6]). 9 * Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Nguồn gây ô nhiễm nước lớn nhất trong khu vực nông thôn tỉnh Quảng Ninh là nước thải chăn nuôi gia súc bao gồm chất thải hữu cơ và các hợp chất Nitơ nồng độ cao. Tính đến tháng 5/2013, có khoảng 62,4% hộ gia đình nông thôn tỉnh Quảng Ninh có chuồng chăn nuôi gia súc hợp vệ sinh, còn lại 37,6% số hộ chỉ có chuồng chăn nuôi gia súc thông thường.
Đến tháng 4/2015, có 70,88% hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã có chuồng trại gia súc hợp vệ sinh. Gần 30% hộ còn lại chưa có chuồng trại hợp vệ sinh là một trong những nguồn gây ô nhiễm nước mặt cho khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh. Do đó, điều cần thiết là phải xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc hợp vệ sinh cho toàn bộ số hộ gia đình có hoạt động chăn nuôi nhằm giải quyết vấn đề nghiêm trọng nhất cho khu vực nông thôn ở tỉnh Quảng Ninh (Sở TN&MT tỉnh Quảng Ninh, 2015 [18]. Với tổng số đàn lợn là 374.916 con, đàn gia cầm là 2,77 triệu con (năm 2014 theo Báo cáo kinh tế - xã hội 5 năm của tỉnh), tạo ra nguồn chất thải từ chăn nuôi rất lớn ra môi trường.
Hoạt động chăn nuôi gia súc quy mô hộ gia đình còn rất phổ biến tại Quảng Ninh. Các cơ sở này đa số chưa có hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, 2015 [17]. Theo số liệu thống kê có khoảng 88 triệu tấn chất thải chăn nuôi; trong đó chất thải từ lợn, gia cầm và gia súc tương ứng 30,1%, 30% và 38,4% và chất thải từ các động vật khác chiếm 1,5%. Số hộ áp dụng các biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi năm 2016 mới chỉ đạt khoảng 53% (2,2 triệu hộ).
Do đó 10 đây là một trong những nguồn chất thải lớn, có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường vùng nông thôn và ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người dân (Trần Hằng, 2017 [10]).