Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi đóng vai trò then chốt trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc nội khu vực nông thôn. Theo thống kê của ngành chăn nuôi, cả nước phát sinh trên 84,45 triệu tấn chất thải rắn mỗi năm, trong đó chất thải từ chăn nuôi lợn chiếm tới 24,96 triệu tấn. Tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh – một địa bàn miền núi với hơn 80% đồng bào dân tộc thiểu số, chăn nuôi lợn chiếm vị trí chủ lực với sản lượng thịt lợn hơi chiếm khoảng 75% tổng sản lượng thịt xuất chuồng toàn huyện. Tuy nhiên, phương thức chăn nuôi tại đây chủ yếu mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, tạo ra lượng chất thải rắn ước tính trên 86.000 tấn/năm và trên 2.000.000 m³ chất thải lỏng/năm, gây áp lực nặng nề lên môi trường sinh thái lưu vực sông Ba Chẽ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt các biện pháp xử lý chất thải đồng bộ tại các hộ gia đình, dẫn đến ô nhiễm cục bộ nguồn nước mặt, đất và không khí do các hợp chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh và khí độc hại. Mục tiêu của đề tài là đánh giá toàn diện thực trạng phát sinh, công tác quản lý chất thải chăn nuôi lợn; kiểm định hiệu quả xử lý thực tế của mô hình hầm khí sinh học Biogas; phân tích nhận thức cộng đồng và đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật, quản lý khả thi. Nghiên cứu được thực hiện tại 08 xã, thị trấn thuộc huyện Ba Chẽ trong giai đoạn 2017 - 2018. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách hỗ trợ môi trường, giảm thiểu tỷ lệ ô nhiễm nguồn nước mặt và hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết phân hủy sinh học chất thải hữu cơ và khung quản lý chất thải chăn nuôi nông nghiệp bền vững. Trọng tâm là công nghệ xử lý kỵ khí thông qua quá trình lên men yếm khí trong hầm Biogas, diễn ra qua bốn giai đoạn sinh hóa liên hoàn: thủy phân (hydrolysis), axit hóa (acidogenesis), axetic hóa (acetogenesis) và mêtan hóa (methanogenesis). Quá trình này chuyển hóa các hợp chất hữu cơ cao phân tử (protein, lipid, carbohydrate chiếm 70% - 80% chất khô) thành sinh khối vi sinh vật và hỗn hợp khí sinh học chứa 50% - 70% khí CH4 cùng các thành phần CO2, H2S, NH3.

Hệ thống đánh giá chất lượng môi trường được chuẩn hóa qua các chỉ tiêu cốt lõi: Nhu cầu oxy hóa học (COD), Nhu cầu oxy sinh hóa 5 ngày (BOD5), Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Nitơ tổng số (T-N), Phốt pho tổng số (T-P) và mật độ vi sinh vật chỉ thị Coliform. Khung pháp lý điều chỉnh nghiên cứu bao gồm Điều 69 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi QCVN 62-MT:2016/BTNMT, Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 3197/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp quan trắc, phân tích thực nghiệm trong phòng thí nghiệm:

  • Phương pháp điều tra xã hội học: Cỡ mẫu khảo sát gồm 83 hộ gia đình chăn nuôi lợn được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên trên địa bàn 08 xã, thị trấn (Thị trấn Ba Chẽ, Nam Sơn, Đồn Đạc, Thanh Sơn, Thanh Lâm, Đạp Thanh, Minh Cầm, Lương Mông). Cơ cấu mẫu gồm 57 hộ chăn nuôi nhỏ lẻ dưới 20 con (chiếm 68,67%), 24 hộ quy mô gia trại từ 20 đến 50 con (chiếm 28,92%) và 02 hộ trang trại trên 50 con (chiếm 2,41%).
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 03 gia trại điển hình quy mô 20 - 50 con (hộ ông Chíu Sinh Thắng, bà Nguyễn Thị Huế, bà Phạm Thị Huệ) đang vận hành hầm Biogas hai ngăn dung tích từ 12 m³/hầm. Quy trình lấy mẫu nước thải trước và sau xử lý được tiến hành theo tiêu chuẩn TCVN 5999:1995 vào khung giờ xả thải cao điểm từ 15h00 đến 16h00 ngày 28/02/2018.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Phân tích hóa lý theo các tiêu chuẩn quốc gia (BOD5 theo TCVN 6001-1:2008, COD theo SMEWW 5220C:2012, TSS theo TCVN 6625:2000, T-N theo TCVN 6638:2000) đảm bảo độ tin cậy cao, định lượng chính xác tải lượng ô nhiễm để đối chiếu với QCVN 62-MT:2016/BTNMT. Tiến trình nghiên cứu kéo dài liên tục 12 tháng từ tháng 06/2017 đến tháng 06/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại huyện Ba Chẽ mang lại 4 phát hiện quan trọng:

  1. Cơ cấu chăn nuôi phân tán và tỷ lệ xử lý chất thải thấp: Hình thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ (<20 con) chiếm ưu thế áp đảo với 68,67% tổng số hộ khảo sát. Trong đó, khoảng 60% lượng chất thải rắn (phân tươi phát sinh trung bình 1,5 - 3,3 kg/con/ngày) được sử dụng trực tiếp bón cho cây trồng mà không qua ủ hoai mục hoặc thải thẳng ra môi trường.
  2. Hạ tầng xử lý nước thải thiếu đồng bộ: Toàn huyện mới chỉ có 49 công trình hầm Biogas composite hoặc nắp cố định dung tích ≥10 m³ được hỗ trợ xây dựng đúng quy chuẩn kỹ thuật từ Dự án Khí sinh học. Số lượng này là quá nhỏ so với tổng đàn vật nuôi phát sinh hơn 2.000.000 m³ nước thải mỗi năm, dẫn đến tình trạng xả thải tự do ra mương rãnh công cộng.
  3. Nồng độ ô nhiễm trong nước thải thô ở mức báo động: Nước thải chăn nuôi đầu vào chưa qua xử lý có tải lượng ô nhiễm cực cao: COD dao động từ 5.000 đến 12.000 mg/L (vượt chuẩn cho phép từ 12 đến 30 lần), BOD5 từ 3.500 đến 8.900 mg/L, TSS từ 680 đến 1.200 mg/L, và Nitơ tổng số đạt từ 220 đến 460 mg/L.
  4. Hiệu suất khử ô nhiễm của hầm Biogas chưa triệt để: Công trình Biogas giúp giảm từ 65% đến 80% nồng độ COD, BOD5 và TSS. Tuy nhiên, nước thải đầu ra sau hầm Biogas vẫn có nồng độ COD ở mức 400 - 850 mg/L và Nitơ tổng số ở mức 150 - 280 mg/L, vượt giới hạn xả thải Cột B của QCVN 62-MT:2016/BTNMT.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến nước thải sau Biogas vẫn vượt ngưỡng quy chuẩn bắt nguồn từ việc lưu lượng nước xả chuồng quá lớn (trung bình 15 - 30 lít/con/ngày), làm giảm thời gian lưu nước trong bể kỵ khí xuống dưới mức tối thiểu cần thiết (dưới 20 - 30 ngày). Ngoài ra, các hộ gia đình chưa xây dựng hệ thống xử lý bậc hai như bể lắng thứ cấp, bãi lọc ngập nước hay hồ sinh học hiếu khí để oxy hóa triệt để lượng amoni và chất hữu cơ hòa tan còn sót lại.

Về phương thức trực quan hóa, toàn bộ chuỗi dữ liệu thực nghiệm được minh họa rõ nét thông qua biểu đồ cột kép so sánh nồng độ các thông số BOD5, COD, TSS trước và sau xử lý của 03 hộ gia trại đối chiếu với đường giới hạn chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT Cột B. Đồng thời, bảng tổng hợp hiệu suất xử lý phần trăm (%) phản ánh chính xác khả năng phân hủy kỵ khí của từng công trình. Kết quả này tương đồng với báo cáo môi trường tỉnh Quảng Ninh năm 2016 khi chỉ có khoảng 53% số hộ chăn nuôi trên toàn tỉnh áp dụng các biện pháp xử lý đạt yêu cầu. Điều này chứng minh rằng việc áp dụng đơn lẻ một hầm Biogas hộ gia đình là chưa đủ để giải quyết bài toán xả thải an toàn tại vùng nông thôn miền núi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lợn tại huyện Ba Chẽ, hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được triển khai:

  • Hoàn thiện quy hoạch và tăng cường kiểm tra môi trường: Ủy ban nhân dân huyện Ba Chẽ cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường cần rà soát, quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung cách xa khu dân cư tối thiểu 200 m. Đặt mục tiêu đến năm 2022, 100% các cơ sở chăn nuôi quy mô từ 20 con trở lên phải thực hiện cam kết bảo vệ môi trường và định kỳ kiểm tra xả thải theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP.
  • Nâng cấp công nghệ xử lý nước thải sau Biogas: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp hướng dẫn các gia trại (20 - 50 con) triển khai mô hình xử lý chuỗi: Hầm Biogas → Bể lắng sơ cấp → Bãi lọc thực vật thủy sinh (sử dụng bèo lục bình hoặc cỏ vetiver). Giải pháp này đặt mục tiêu khử trên 90% COD và 85% Nitơ tổng số, bảo đảm nước thải đạt chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT Cột B trong giai đoạn 2019 - 2021.
  • Nhân rộng công nghệ đệm lót sinh học cho nông hộ nhỏ lẻ: Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp huyện chủ trì chuyển giao quy trình đệm lót sinh học bằng chế phẩm Balasa N01 kết hợp mùn cưa, trấu cho 57 hộ chăn nuôi dưới 20 con. Target metric là giảm 75% - 80% mùi hôi phát tán (khí NH3, H2S) và tiết kiệm 80% lượng nước vệ sinh chuồng trại, hoàn thành trước quý IV/2020.
  • Tối ưu hóa chính sách hỗ trợ tài chính và tập huấn kỹ thuật: Phòng Tài chính - Kế hoạch phối hợp các xã giải ngân nguồn kinh phí theo Quyết định 50/2014/QĐ-TTg và Quyết định 3197/2016/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh, hỗ trợ trực tiếp tối đa 5 triệu đồng/công trình Biogas hoặc đệm lót sinh học. Tổ chức ít nhất 10 lớp tập huấn kỹ thuật vận hành hầm ủ và ủ phân compost cho 500 lượt hộ dân trên địa bàn 08 xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cán bộ quản lý nhà nước cấp cơ sở: Cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các xã vùng cao có thể sử dụng số liệu phát sinh chất thải và thực trạng xử lý để xây dựng đề án bảo vệ môi trường nông thôn, đồng thời lập dự toán hỗ trợ chính sách cho người dân địa phương.
  2. Chủ trang trại và hộ gia đình chăn nuôi: Các hộ chăn nuôi quy mô từ 20 đến trên 50 con lợn tìm thấy hướng dẫn kỹ thuật chi tiết về tính toán dung tích hầm Biogas (≥12 m³), cách khắc phục hiện tượng quá tải và quy trình phối hợp chế phẩm sinh học xử lý mùi hôi chuồng trại.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành môi trường: Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thực địa, kỹ thuật chọn mẫu phân tầng xã hội học và quy trình phân tích các chỉ tiêu nước thải ô nhiễm hữu cơ cao (BOD5, COD, TSS, Nitơ, Phốt pho) theo tiêu chuẩn TCVN.
  4. Các tổ chức phát triển nông thôn và doanh nghiệp công nghệ môi trường: Các đơn vị tư vấn chuyển giao công nghệ có thể ứng dụng mô hình kết hợp Biogas với bãi lọc thực vật để thiết kế các giải pháp xử lý chất thải chi phí thấp, phù hợp với đặc thù địa hình chia cắt tại vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Nước thải sau khi qua hầm Biogas hộ gia đình tại Ba Chẽ có thể xả trực tiếp ra môi trường không?
Không. Dù hầm Biogas dung tích 12 m³ giảm được 65% - 80% tải lượng ô nhiễm hữu cơ, nồng độ COD (400 - 850 mg/L) và Nitơ tổng số đầu ra vẫn vượt ngưỡng cho phép theo QCVN 62-MT:2016/BTNMT Cột B. Do đó, nước thải bắt buộc phải qua thêm bể lắng hoặc hồ sinh học thực vật trước khi xả ra mương rãnh.

Chi phí xây dựng một hầm Biogas đạt chuẩn kỹ thuật cho đàn lợn 20 - 50 con là bao nhiêu?
Chi phí xây dựng hoàn thiện một hầm Biogas composite hoặc gạch xây dung tích 12 - 15 m³ dao động từ 10 đến 15 triệu đồng. Người dân tại Quảng Ninh được nhà nước hỗ trợ trực tiếp 5 triệu đồng/công trình theo Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg, giúp giảm đáng kể gánh nặng tài chính đầu tư ban đầu.

Công nghệ đệm lót sinh học có ưu điểm gì vượt trội đối với các hộ nuôi dưới 20 con?
Đệm lót sinh học sử dụng trấu, mùn cưa và men vi sinh giúp phân hủy phân và nước tiểu ngay tại nền chuồng, giảm tới 80% khí độc NH3, H2S, không phát sinh nước thải rửa chuồng và tiết kiệm chi phí xây dựng công trình phụ trợ, rất phù hợp với 68,67% hộ nuôi nhỏ lẻ tại địa phương.

Huyện Ba Chẽ hiện phát sinh bao nhiêu lượng chất thải chăn nuôi mỗi năm?
Ước tính hàng năm tổng đàn vật nuôi của huyện phát sinh trên 86.000 tấn chất thải rắn và hơn 2.000.000 m³ chất thải lỏng. Trong đó, khoảng 60% chất thải rắn chưa được xử lý triệt để trước khi sử dụng hoặc thải bỏ, tạo ra áp lực ô nhiễm rất lớn đối với môi trường nước mặt.

Chính sách hỗ trợ của tỉnh Quảng Ninh đối với xử lý chất thải chăn nuôi nông hộ quy định những gì?
Theo Quyết định số 3197/2016/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh, các hộ chăn nuôi xây dựng công trình khí sinh học hoặc làm đệm lót sinh học xử lý chất thải được ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần đến 50% giá trị công trình với mức trần tối đa không quá 5 triệu đồng/hộ.

Kết luận

  • Chăn nuôi lợn tại huyện Ba Chẽ đóng góp 75% sản lượng thịt hơi nhưng chủ yếu phân tán với 68,67% số hộ nuôi quy mô nhỏ lẻ dưới 20 con.
  • Toàn huyện phát sinh hơn 86.000 tấn chất thải rắn và 2.000.000 m³ chất thải lỏng/năm, trong khi chỉ có 49 hầm Biogas đạt chuẩn kỹ thuật.
  • Nước thải chăn nuôi thô có nồng độ COD cực cao (5.000 - 12.000 mg/L), vượt quy chuẩn hàng chục lần.
  • Công trình Biogas giúp giảm 65% - 80% chất ô nhiễm nhưng nước thải sau xử lý vẫn vượt chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT Cột B do thiếu hệ thống xử lý thứ cấp.
  • Giải pháp đột phá là kết hợp Biogas với hồ sinh học thực vật cho gia trại và ứng dụng đệm lót sinh học cho nông hộ nhỏ lẻ.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh định lượng chân thực về hiện trạng ô nhiễm và hiệu quả công nghệ xử lý kỵ khí tại vùng miền núi Ba Chẽ. Kế hoạch hành động giai đoạn 2019 - 2022 đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền và cộng đồng nhằm phổ biến mô hình xử lý sinh học kết hợp. Hãy chủ động tham khảo chi tiết toàn văn đề tài và ứng dụng các giải pháp kỹ thuật sinh học ngay hôm nay để bảo vệ nguồn nước và phát triển kinh tế chăn nuôi an toàn, bền vững!