CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT ĐIỀU HÀNH CỦA NHTW 1. Tổng quan về lãi suất điều hành của NHTW 1. Khái niệm và vai trò Lãi suất là biến số vĩ mô chính ảnh hưởng đến tăng trưởng của nền kinh tế, được sử dụng làm mục tiêu, công cụ trong điều hành CSTT của NHTW và là kênh truyền tải mang tính chính thống được đề cập trong các lý thuyết về CSTT.
Lãi suất được hiểu là số tiền/khoản phí mà người đi vay phải trả cho người cho vay hoặc tổ chức tài chính khi sử dụng số tiền vay từ tổ chức này (Crowley, 2007). Irving Fisher đề cập lãi suất “là cầu nối giữa thu nhập và vốn.” và “là tỷ lệ phần trăm giữa số tiền phải trả trên số vốn vay mượn sau một năm”. Quan điểm Robert J.Gordoncho rằng “lãi suất là tỷ lệ phần trăm mà người đi vay phải trả cho người cho vay”. Theo học thuyết của Keynes (1937), chính sách tiền tệ thắt chặt với cung tiền thu hẹp sẽ làm tăng lãi suất thực; lãi suất thực tăng lên sẽ làm tăng chi phí vốn và làm giảm chi tiêu cho đầu tư, giảm tổng cầu và do đó làm giảm sản lượng.
Ngược lại, chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ làm giảm lãi suất, tăng tổng cầu và sản lượng. John Taylor (1995) đã phát triển lý thuyết của Keynes và đề xuất kênh truyền tải lãi suất theo đó chính sách tiền tệ thu hẹp làm tăng lãi suất danh nghĩa ngắn hạn. Do mức giá có xu hướng biến động trễ và ảnh hưởng của yếu tố kỳ vọng, lãi suất danh nghĩa ngắn hạn có thể làm tăng lãi suất thực dài hạn, làm giảm tiêu dùng và đầu tư. Trong thực tế, các mục tiêu của CSTT có thể mâu thuẫn với nhau, ví dụ lạm phát vượt mức lạm phát mục tiêu trong khi sản lượng lại dưới mức sản lượng tiềm năng.
Trong trường hợp này, quy tắc Taylor cung cấp hướng dẫn cho các nhà hoạch định chính sách về cách cân bằng các mục tiêu này bằng cách đặt ra một mức lãi suất thích hợp, được gọi là “lãi suất trung hoà”. Các nhà kinh tế cũng cho rằng, định nghĩa và cách tính lãi suất trung hoà (LSĐH của ngân hàng trung ương) phụ thuộc vào tình hình kinh tế của từng quốc gia cũng như dữ liệu và mô hình. Hơn nữa, NHTW với vai trò là cơ quan duy nhất phát hành tiền, chịu trách nhiệm điều hành chính sách tiền tệ nhằm duy trì ổn định đồng tiền quốc gia, có trách nhiệm giám sát hệ thống ngân hàng. Đồng thời, theo quy luật phát triển chung, cũng như trong bối cảnh hội nhập quốc tế gia tăng, thị trường tài chính, tiền tệ ngày càng lớn mạnh và đổi mới kết hợp ứng dụng công nghệ số, hệ thống thống tin dữ liệu đa dạng, phong phú, NHTW tất yếu sẽ phải chuyển đổi điều hành chính sách tiền tệ từ lượng sang giá hoặc kết hợp linh hoạt.
Theo đó, việc thiết lập và xác định LSĐH của NHTW nhằm đạt được các cân bằng trong nền kinh tế theo mục tiêu của NHTW có ý nghĩa quan trọng trong việc đạt được hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ. 13 Lãi suất điều hành là lãi suất ngắn hạn mà NHTW thiết lập để tác động đến các biến số tiền tệ chính trong nền kinh tế như giá tiêu dùng, tỷ giá hối đoái hoặc mở rộng tín dụng, v. Lãi suất điều hành được NHTW lựa chọn (có thể là lãi suất của một công cụ CSTT hoặc lãi suất thị trường liên ngân hàng) và công bố để làm mục tiêu CSTT hoặc áp dụng trong giao dịch giữa NHTW và các thành viên thị trường tiền tệ. Các ngân hàng trung ương có thể chọn LSĐH là lãi suất của một công cụ chính sách tiền tệ - lãi suất chính sách, thường là lãi suất chiết khấu hoặc lãi suất mua giấy tờ có giá trên thị trường mở, hoặc chọn lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường LNH - lãi suất mục tiêu.
Theo đó, NHTW sẽ công bố (định kỳ hoặc đột xuất) và điều chỉnh mặt bằng lãi suất, cũng như thực hiện các nghiệp vụ chính sách tiền tệ nhằm điều chỉnh điều kiện tiền tệ, lãi suất thị trường và tình hình thanh khoản của các ngân hàng để đạt được mục tiêu của NHTW.1: Mối quan hệ giữa lãi suất điều hành của NHTW và các lãi suất khác trên thị trường Lãi suất điều hành Lãi suất ngắn Lãi suất trung, Mục tiêu cuối cùng - LS TCK* hạn trên thị dài hạn - Lạm phát - Lãi suất công cụ cho trường tiền tệ -Tăng trưởng (chủ yếu là lãi - LS huy động vay, nhận tiền gửi - Việc làm - Lãi suất DTBB/dự suất LNH kỳ hạn - LS cho vay của - Ổn định tài trữ vượt O/N đến 3 tháng) các TCTD chính… - LS OMO* - Mục tiêu LSLNH* Các quy định của NHTW Nguồn: Tổng hợp *: Lãi suất điều hành phổ biến của NHTW Về vai trò, có thể thấy LSĐH là loại lãi suất chủ chốt do ngân hàng trung ương công bố (như lãi suất quỹ liên bang của Mỹ- FFR, lãi suất qua đêm - Overnight rate của Anh) sẽ định hướng và là cơ sở để xác định các loại lãi suất khác trong thị trường, vì nó là giá mà các ngân hàng vay / gửi tiền với nhau hoặc từ ngân hàng trung ương. Sau đó, các tổ chức tín dụng sẽ cung cấp cho khách hàng các sản phẩm tài chính với lãi suất tiền gửi và tiền vay dựa trên tham chiếu LSĐH của ngân hàng trung ương. Đồng thời, mức lãi suất này còn là chỉ số phản ánh hành động của NHTW trong việc điều hành chính sách tiền tệ và phát huy vai trò truyền tải tác động của chính sách tiền tệ đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Thông thường, các NHTW sẽ sử dụng LSĐH để thực hiện CSTT thắt chặt hoặc mở rộng.
Việc tăng LSĐH thường được 14 ngân hàng trung ương sử dụng để kiểm soát lạm phát, giảm giá đồng tiền, hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng hoặc dòng vốn chảy ra ngoài. Ngược lại, việc hạ lãi suất sẽ giúp ngân hàng trung ương đạt được mục tiêu thúc đẩy hoạt động kinh tế thông qua mở rộng tín dụng hoặc phá giá tiền tệ để tăng tính cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ.1 cho thấy mối quan hệ giữa LSĐH với các lãi suất khác trên thị trường. Tóm lại, điều hành lãi suất là một phần quan trọng của khuôn khổ CSTT, là cách thức NHTW thiết kế các loại LSĐH và vận hành các nghiệp vụ CSTT. Bên cạnh đó, NHTW cũng có thể quy định lãi suất kinh doanh của TCTD đối với khách hàng nhằm góp phần đạt được các mục tiêu đề ra.
Điều hành lãi suất rất quan trọng vì nó quy định cách thức vận hành các nghiệp vụ CSTT. Ở các nước điều hành CSTT theo khuôn khổ lạm phát mục tiêu (LPMT) thì trụ cột của khuôn khổ CSTT chính là điều hành lãi suất. Theo đó, việc xây dựng, tổ chức vận hành các công cụ CSTT xoay quanh việc đạt được mục tiêu hoạt động là lãi suất. Ở các nước điều hành theo các khuôn khổ khác (khuôn khổ khối lượng, khuôn khổ tỷ giá, khuôn khổ ngầm), lãi suất được xem là một công cụ CSTT, có quan hệ ngang hàng chứ không chi phối các công cụ khác.
Lựa chọn lãi suất điều hành của NHTW Tùy theo điều kiện cụ thể của thị trường tài chính thường xuyên ở trạng thái thừa hoặc thiếu thanh khoản, NHTW sẽ lựa chọn LSĐH là lãi suất cung ứng hay hấp thụ thanh khoản hoặc chọn LSĐH là lãi suất liên ngân hàng để định hướng các lãi suất ngắn hạn của thị trường. Về cơ bản, ngân hàng trung ương có thể đặt lãi suất điều hành là một trong hai loại lãi suất dưới đây: (i) Lãi suất điều hành là lãi suất của một loại công cụ CSTT được NHTW lựa chọn và công bố làm lãi suất chủ đạo trong điều hành CSTT (gọi là lãi suất chính sách -Policy interest rate), phát tín hiệu và trạng thái CSTT của NHTW. Lãi suất này thường được NHTW các nước sử dụng trong giai đoạn đầu chuyển sang điều hành theo giá, uy tín còn chưa cao, khả năng kiểm soát lãi suất LNH vẫn hạn chế. Thông thường, các NHTW lựa chọn lãi suất cung ứng thanh khoản (như tái cấp vốn, Repo kỳ hạn 1 tuần – kỳ hạn phổ biến nhất.) như trường hợp của Anh, Châu Âu, Thái Lan, Philippines hoặc là lãi suất tiền gửi như tại Cộng Hòa Séc, Nhật Bản.
Theo đó, nếu thị trường thừa thanh khoản kéo dài, NHTW chọn lãi suất chính sách là lãi suất của nghiệp vụ thu hồi thanh khoản, ngược lại NHTW chọn lãi suất của nghiệp vụ cung cấp thanh khoản. Đây là mức lãi suất NHTW đặt ra khi giao dịch với các TCTD nên luôn đảm bảo được khả năng đạt được mục tiêu, qua đó giữ được uy tín của NHTW. Theo đó, công bố mục tiêu đối với LSLNH (thường là kỳ hạn rất ngắn qua đêm, 1 tuần, 2 tuần hoặc 1 tháng - được giao dịch nhiều trên thị trường), sau 15 đó NHTW điều hành các công cụ CSTT để điều tiết thanh khoản toàn hệ thống sao cho LSLNH bám sát mục tiêu đã đặt ra như trường hợp của Mỹ, Úc, New Zealand. Mục tiêu lãi suất LNH thường được NHTW các quốc gia phát triển lựa chọn, trong khi các quốc gia đang phát triển lựa chọn sau khi việc điều hành theo giá đã vận hành thông suốt trong một thời gian, uy tín của NHTW cũng như khả năng tác động từ công cụ CSTT sang lãi suất LNH đã được cải thiện.
Ngoài ra, các NHTW còn có thể lựa chọn cách chỉ công bố LSĐH để định hướng thị trường như trường hợp của Trung Quốc công bố LSĐH không gắn trực tiếp với lãi suất thị trường mà chỉ đóng vai trò tham chiếu cho lãi suất huy động và cho vay kỳ hạn 1 năm của các TCTD. Việc công bố các mức lãi suất điều hành tuỳ thuộc vào khuôn khổ CSTT mà NHTW các quốc gia lựa chọn. Thông thường các quốc gia theo đuổi khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu thường lựa chọn và công bố lãi suất chính sách (như NHTW Châu Âu, Anh, Malaysia, Thái Lan…), trong khi các quốc gia theo đuổi khuôn khổ khác như Mỹ, Úc, Canada, Thụy Điển… sẽ lựa chọn công bố lãi suất mục tiêu theo đuổi và không công bố chính thức lãi suất chính sách. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các NHTW đều lựa chọn lãi suất ngắn hạn là lãi suất LNH kỳ hạn qua đêm hoặc 1 tuần, đồng thời thiết lập các cơ chế điều tiết lãi suất tự động (cơ chế hành lang lãi suất, cơ chế lãi suất trần hoặc sàn) nhằm tăng khả năng kiểm soát lãi suất trên thị trường.