Chương 1 TỔNG QUAN 1. GIẢI PHẪU TAI GIỮA Tai giữa bao gồm hòm nhĩ, vòi nhĩ và hệ thống các tế bào chũm. Nó là một phần của đường hô hấp trên, thông thương với vòm họng và hốc mũi (hình 1) Niêm mạc phủ hòm tai liên tiếp với niêm mạc họng, mũi vì vậy bệnh lý của tai, mũi, họng liên quan rất mật thiết với nhau Häng mòi X¬ng Tai chòm gi÷a Mòi X¬ng khÈu Vßi c¸i nhÜ H×nh 1: S¬ ®å mòi - häng - vßi nhÜ - hßm nhÜ - hÖ thèng tÕ bµo chòm ( Bluetone, Pediatric Otolaryngology 1995 ) 1.Các thành của hòm nhĩ : Hòm nhĩ giống cái thấu kính 2 mặt lõm, gồm 6 thành: 1. Thành ngoài hay thành màng 4 - Thành ngoài: có màng tai ở dưới, tường xương ở trên.
Tường xương và màng tai ngăn cách tai giữa và tai ngoài. H×nh 2: Liªn quan cña tai gi÷a víi c¸c c¬ quan l©n cËn + Tường xương: ở trên chính là tường thượng nhĩ và được chia làm hai phần. Phần dưới là xương mỏng, đặc và cứng, phần trên xương dày hơn và xốp. + Phần màng: Là màng tai, đó là một màng mỏng nhưng dai và cứng, có màu hơi xám, sáng bóng, trong; có hai dạng cơ bản là hình tròn và hình bầu dục, lõm ở trung tâm gọi là rốn nhĩ, chính ở vị trí này là nơi màng tai bắt đầu gắn vào cán xương búa.
Bờ chu vi dày lên được gắn vào rãnh nhĩ của xương nhĩ bởi một vòng sụn sợi hay còn gọi là vòng Gerlach. Độ dày của màng tai 5 theo Rizer và Franklin là 131 m, chỗ dày nhất của màng tai là dây chằng nhĩ búa: 0,8mm, mỏng nhất là rốn nhĩ dầy 0,1mm. Đây là phần rung động của màng tai, có diện tích rung động khoảng 50- 55 mm2. Đường kính dọc màng tai đo dọc theo chiều dài cán búa ở người Việt nam là 8,65 0,85 mm, theo các tác giả khác là 8,5- 10 mm.
Đường kính ngang đo qua rốn màng tai ở người Việt nam là 7,72 0,52 mm, các tác giả khác là 8,5- 9 mm. Màng tai nằm nghiêng hợp với thành trên hòm tai một góc 140 0 ở người lớn và trên 450 ở trẻ em. Kẻ một đường chếch xuống dưới dọc theo cán xương búa, đường thứ hai vuông góc với đường trên ở rốn nhĩ. Hai đường này chia màng tai thành bốn khu không đều nhau.
Hai khu trên đặc biệt là khu sau trên liên quan đến các xương con và thừng nhĩ. Khu trước dưới có một vệt sáng hình nón, gọi là nón sáng Politzer mà đỉnh ở rốn nhĩ, do sự phản chiếu của ánh sáng trên màng tai khi ta soi đèn vào. Màng tai có 2 chức năng: chức năng quan trọng nhất của màng tai là tiếp nhận rung động âm học, chuyển thành rung động cơ học và chuyển các rung động này đến cửa sổ bầu dục và đi vào môi trường nước của tai trong, tỷ lệ khuếch đại âm thanh là 17/1 lần. Nhưng nó còn có chức năng quan trọng thứ hai là chức năng bảo vệ tai giữa, chức năng này liên quan đến vòi tai và hòm tai.
Sự rung động của màng tai: Màng tai rung động như màng vi âm khi bị tác động của sóng âm và biến sóng âm thành rung động cơ học. Biên độ dao động thay đổi theo từng vùng: Vùng biên độ lớn nhất là vùng rốn nhĩ và vùng sau rốn. Sự rung động này được chuyển trực tiếp vào xương búa, vì cán búa dính trực tiếp vào màng tai. Diện tích rung động của màng tai lớn gấp 20 lần so với diện tích của mặt đế xương bàn đạp, nhờ vậy tại cửa sổ bầu dục cường độ của sóng âm được tăng lên 20 lần và biên độ giảm xuống.
6 Chức năng bảo vệ của màng tai: Màng tai có hai chức năng bảo vệ chính là về âm thanh và về môi trường bên ngoài. Một màng tai còn nguyên vẹn sẽ ngăn chặn được sóng âm tác động trực tiếp lên cửa sổ tròn, do đó ngăn chặn được ảnh hưởng triệt tiêu đối với rung động của ngoại dịch, tức là bảo vệ sự lệch pha giữa hai cửa sổ. Một màng tai nguyên vẹn cũng sẽ bảo vệ tai giữa khỏi bị viêm nhiễm từ môi trường bên ngoài vào tai giữa, xương chũm không bị trào ngược các chất xuất tiết từ mũi họng lên theo đường vòi tai. Thành trong hay thành mê nhĩ Thành này có liên quan đến tai trong: - ở giữa: lồi lên gọi là ụ nhô, do ốc tai lồi vào thành trong hòm tai tạo nên.
Trên mặt ụ nhô có những rãnh nhỏ gọi là rãnh ụ nhô, cho các nhánh của đám rối nhĩ thuộc thần kinh nhĩ, nhánh của thần kinh lưỡi hầu nằm. - Dưới ụ nhô: có lỗ của dây thần kinh Jacobson. - Sau ụ nhô có: + Ở phía trên là cửa sổ bầu dục, có đế xương bàn đạp lắp vào. Phía trên cửa sổ bầu dục có 1 chỗ lõm gọi là ngách mặt ( facial sinus).
Cửa sổ bầu dục có diện tích khoảng 3,0 x 1,4 mm. + Ở phía dưới: là cửa sổ tròn có 1 màng mỏng lắp vào, còn gọi là màng tai phụ. + Giữa 2 cửa sổ có 1 hố lõm, gọi là ngách nhĩ. - Ở trên và trước ụ nhô cũng có 1 lồi xương, hình đầu 1 cái thìa nên gọi là mỏm thìa, có gân cơ búa ( gân cơ căng màng tai) chui ra.
Thành trên hay thành trần hòm tai Là 1 mảnh xương mỏng, chia cách màng tai với hố não giữa, do xương trai và xương đá tạo thành, ở đó có một đường tiếp gọi là khớp trai đá, đại bộ phận khi sinh ra khớp này đã được liền kín. Trong một số ít trường hợp, 7 khớp xương này bị hở và niêm mạc tai giữa quan hệ trực tiếp với màng não, đó là điều kiện thuận lợi để VTG mạn gây biến chứng viêm màng não, não. Thành dưới hay thành tĩnh mạch cảnh - Giống như 1 cái rãnh, sâu 2mm, thấp hơn thành dưới ống tai ngoài khoảng 1mm, vì vậy trong viêm tai giữa mạn tính mủ thường ứ đọng ở đây. - Thành này là một mảnh xương mỏng, mặt dưới là tĩnh mạch cảnh trong.
Thành trước hay thành động mạch cảnh trong - Phần thấp nhất cách động mạch cảnh trong bởi 1 mảnh xương mỏng. - Phía trên là lỗ trên của vòi tai. - ở trên vòi tai là ống thừng nhĩ, mỏm thìa và ống cơ búa. Thành sau hay thành chũm - Ở trên có 1 ống thông với sào bào gọi là sào đạo.
Ở dưới ngách thượng nhĩ là mỏm tháp, có gân cơ bàn đạp chui ra tới bám vào cổ xương bàn đạp. - Ngay sau hòm tai, nằm ở phần xương chũm có đoạn 2 và 3 cống Fallope trong đó có dây thần kinh VII. Giữa đoạn 2 và 3 có khuỷu dây VII hình vòng cung, đoạn 3 dây VII chạy xuống dưới theo hướng chếch ra ngoài. Như vậy dây VII chạy xuống dưới và chếch ra ngoài, còn hòm tai lại chếch vào trong nên dây mặt bắt chéo hòm tai.
Kích thước và các tầng của hòm nhĩ 1. Kích thước - Chiều trên dưới là 15 mm. - Chiều trong ngoài: rộng nhất 5- 6 mm, hẹp nhất là 1,5- 2 mm. Các tầng của hòm tai: chia làm 3 tầng Tầng trên hay còn gọi là thượng nhĩ: có hệ thống xương con.
Tầng dưới hay hạ nhĩ là phần thấp nhất của hòm tai. Trung nhĩ ở giữa tầng trên và tầng dưới. 8 Giữa thượng nhĩ và trung nhĩ ngăn cách nhau bởi eo thượng nhĩ- nhĩ. Thượng nhĩ - Các thành của thượng nhĩ: thượng nhĩ có 6 mặt và liên quan với + Mặt ngoài là tường thượng nhĩ, màng tai.
+ Mặt trong là tiền đình. + Mặt dưới thông với hạ nhĩ và bị thắt hẹp + Mặt trên có khớp đá trai, qua trần thượng nhĩ là màng não thuộc thuỳ thái dương, có nhánh của động mạch màng não đi qua, có tĩnh mạch đi đến tĩnh mạch xoang hang. + Mặt sau thông với sào đạo và sào bào. + Mặt trước là ống cơ búa.
- Cấu trúc của thượng nhĩ Do sự có mặt của xương búa, xương đe và dây chằng treo xương búa ngăn thượng nhĩ làm 2 ngăn ngoài và trong. Chỉ có ngăn trong thông với hạ nhĩ, liên quan với sào đạo ở phía sau và tầng dưới của hòm tai ở phía trước. Còn ngăn ngoài thì không thông với hạ nhĩ và chia làm nhiều ngăn. Thượng nhĩ rất kém thông khí và là căn nhà nhỏ chứa xương con.
- Thượng nhĩ ngoài: có dây chằng cổ xương búa chia làm 2 ngăn, ngăn trên Kretschman, ngăn dưới là Prussach. Ngoài là tường thượng nhĩ ( xương xốp). Trong là vách liên thượng nhĩ. Dưới là dây chằng ngang cổ xương búa.
Sau là sào đạo. Ngoài: phần cao là tường thượng nhĩ ( xương đặc), phần dưới là màng Schrapnell. Trong là dây chằng cổ xương búa. Dưới liên quan ở trên với túi Troltsch.
- Thượng nhĩ trong: có 4 thành liên quan. Ngoài là vách liên thượng nhĩ. Trong là tiền đình ( ống bán khuyên ngang và ống bán khuyên đứng). Dưới thông với hạ nhĩ.
Trên là trần thượng nhĩ. - Hệ thống xương con dây chằng và mạch máu Hệ thống xương con nằm trong hòm tai gồm: xương búa, xương đe, và xương bàn đạp. Vòi nhĩ (Eustachian tube) Ở người lớn vòi nhĩ tạo một góc 45 0 với mặt phẳng ngang. Ở trẻ em góc này chỉ là 100.
Độ nghiêng khác nhau giữa trẻ em và người lớn có thể liên quan đến hoạt động kém hiệu quả của cơ mở vòi nhĩ ở trẻ em. Vòi nhĩ ở người lớn thì dài hơn ở trẻ nhỏ và độ dài này có thay đổi theo chủng tộc từ 31 - 38mm. Ngêi lín TrÎ em H×nh 8: Sù kh¸c nhau gi÷a vßi nhÜ trÎ em vµ ngêi lín 10 11 Một phần ba sau của vòi nhĩ là phần xương (Protympanum), Ở người lớn dài từ 11 - 14 mm. Hai phần ba trước là phần sụn và màng dài từ 20 - 25 mm.
Phần xương của vòi Eustache nằm hoàn toàn trong phần đá của xương thái dương và liên tiếp với thành trước của hòm nhĩ ( phần trên ). Chỗ nối giữa phần xương của vòi nhĩ vào epitympanum ở 4 mm phía trên đáy của hòm nhĩ. Đặc điểm giải phẫu này đóng một vai trò quan trọng trong chức năng làm sạch dịch tai giữa của vòi nhĩ. Phần xương bình thường luôn luôn mở, trái lại phần sụn sợi đóng lại khi nghỉ và mở ra khi nuốt nước bọt hoặc khi mở bằng áp lực (như trong nghiệm pháp Valsalva).
* Chức năng sinh lý cơ bản (Paparella): - Thông khí tai giữa, làm cân bằng áp lực trong tai giữa với áp lực bên ngoài. - Dẫn lưu và làm sạch những tiết dịch sinh ra trong tai giữa.