ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay ở nước ta ngành công nghiệp dệt may ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao và phong phú, đa dạng của con người mà còn giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho xã hội và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách quốc gia, tạo điều kiện để phát triển kinh tế. Ngành công nghịêp dệt may đã có những bước tiến vượt bậc, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành khoảng 30%/năm, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tính đến nay cả nước có khoảng 822 doanh nghiệp dệt may, trong đó doanh nghiệp quốc doanh là 231, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 370.
Ngành dệt may đang thu hút được khoảng 2 triệu lao động, chiếm 25% lực lượng lao động công nghiệp. Bên cạnh những thành tựu rất lớn lao trong tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân thì vấn đề ô nhiễm môi sinh, ô nhiễm môi trường lao động tác động tới sức khỏe bệnh tật của người lao động đang là một vấn đề rất được Đảng và Nhà nước quan tâm. Đặc thù của ngành may là sử dụng dây chuyền công nghệ giản đơn, mức độ lao động tuy không quá nặng nhọc nhưng gò bó, đòi hỏi nhịp độ công nghiệp nhanh… Tỷ lệ lao động nữ rất cao, chiếm khoảng 80 – 90% và phần lớn ở độ tuổi 20 – 35 tuổi, thời gian làm việc trung bình trên 8h/ngày, nhiều khi lên tới 10 – 12h/ngày. Môi trường bụi bông trong đó có dị nguyên bụi bông là một trong những nguyên nhân gây các bệnh dị ứng đường hô hấp: Bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp, hen nghề nghiệp, viêm mũi dị ứng, … Các dị nguyên nghề nghiệp (DNNN) là một nhóm chế phẩm đa dạng, có thể phân biệt chúng thành 2 loại: Các dị nguyên (DN) nguyên liệu tự nhiên mà con người tiếp xúc lâu dài khi thực hiện nhiệm vụ và các dị nguyên xuất hiện trong quá trình sản xuất.
Người ta cho rằng các hạt bụi cỡ 10- 50m chủ yếu cố định trong khoang mũi, các hạt bụi 1-10m lọt vào phế quản, còn các hạt bụi nhỏ hơn 1m đi đến tiểu phế quản. Trong điều kiện sản xuất, cơ thể bị tổn thương bởi các hạt kích cỡ khác nhau của cùng 1 sản phẩm. Mặc dù các yếu tố bệnh căn của dị ứng rất đa dạng, dị ứng với bụi bông là một lĩnh vực đặc biệt thú vị và có triển vọng trong dị ứng học hiện đại. Sự quan tâm 2 tới dị nguyên này không ngừng tăng lên, trước hết do sự mẫn cảm với dị nguyên bụi bông là một trong những nguyên nhân thông thường nhất của các bệnh dị ứng nghề nghiệp (Hen, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, bệnh bụi phổi bông) chiếm tỷ lệ không nhỏ trong bệnh dị ứng chung.
Bệnh bụi phổi bông còn có tên gọi là bệnh hen của thợ dệt, với đặc điểm đáng chú ý là xuất hiện sốt và khó thở, tức ngực vào ngày thứ hai. Bệnh được mô tả từ thế kỷ 17 (Ramazzini trình bày) đến thế kỷ 18-19 trở nên khá phổ biến ở Châu Âu nhưng đến thập kỷ của thế kỷ 19, bệnh bụi phổi bông. Nhưng bệnh hen phế quản (HPQ), VMDƯ do dị nguyên bụi bông mới được mô tả và được nghiên cứu ở một số nước. Bệnh viêm mũi dị ứng nghề nghiệp ở nhiều nước công nghiệp chiếm 2% tổng số bệnh nhân mắc bệnh dị ứng.
Một trong các mẫn cảm nghề nghiệp là ở chỗ, ngoài tố chất chức năng biểu hiện rõ rệt, là ảnh hưởng của những yếu tố như nồng độ, cách nhiễm dị nguyên, môi trường vi khí hậu ở chỗ làm việc, nấm mốc và hàng loạt các yếu tố khác. Đặc thù của loại hình lao động này là môi trường lao động không thuận lợi, thường xuyên phải tiếp xúc với bụi bông trong một thời gian liên tục làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, gây ra một số bệnh nghề nghiệp, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe công nhân. Đã có nhiều nghiên cứu khảo sát môi trường lao động và tình hình sức khỏe của công nhân dệt may trong những năm gần đây. Những bất cập trong điều kiện lao động đã được chỉ ra, những tác động sức khỏe đã được nhắc đến trong nhiều nghiên cứu, nhưng sự cập nhật tổng thể và những mối tương quan với các bệnh đặc thù cũng như các giải pháp can thiệp khả thi thì chưa tìm thấy báo cáo nào đề cập rõ ràng.
Các bệnh dị ứng: viêm mũi dị ứng, hen phế quản, viêm kết mạc, mề đay…đặc biệt là viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông (DNBB) đặc trưng cho ngành dệt may còn chưa được đánh giá đầy đủ. Nghệ An là một trong những thành phố có ngành dệt may phát triển sớm và lâu đời, tạo một nguồn công việc lớn cho người lao động tại địa phương và các tỉnh lân cận. Trong đó, hàng đầu kể đến là Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan. Đặc thù của ngành dệt may thì nhóm bệnh hô hấp chiếm một tỉ lệ khá cao, tiêu biểu là tình trạng viêm mũi dị ứng.
Vấn đề nghiên cứu thực trạng bệnh viêm mũi dị ứng 3 và hiệu quả một số giải pháp can thiệp là rất quan trọng và cấp thiết nhằm bảm đảm tốt nhất về mặt sức khỏe cho người lao động khi làm việc và sinh hoạt tại công ty. Từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với các mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng bệnh Viêm mũi dị ứng do dị nguyên bụi bông của công nhân Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan, Nghệ An năm 2016. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh viêm mũi dị ứng của công nhân Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan năm 2016.
Đánh giá hiệu quả can thiệp nhằm giảm thiểu bệnh Viêm mũi dị ứng của công nhân. Từ đó đề xuất áp dụng các giải pháp can thiệp nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe người lao động một cách khả thi và có cơ sở khoa học. MỘT SỐ KHÁI NIỆM BỆNH NGHỀ NGHIỆP - Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động. Theo luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015 - Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động.
Theo luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015. - Giới hạn tiếp xúc tối thiểu là mức tiếp xúc thấp nhất với yếu tố có hại trong quá trình lao động để có thể gây nên bệnh nghề nghiệp, theo thông tư số 15/2016/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế, ngày 15 tháng 06 năm 2016 - Thời gian tiếp xúc tối thiểu là thời gian tiếp xúc ngắn nhất với yếu tố có hại trong quá trình lao động để có thể gây bệnh nghề nghiệp, theo thông tư số 15/2016/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế, ngày 15 tháng 06 năm 2016 - Thời gian bảo đảm là khoảng thời gian kể từ khi người lao động đã thôi tiếp xúc với yếu tố có hại đến thời điểm vẫn còn khả năng phát bệnh do yếu tố có hại đó, theo thông tư số 15/2016/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế, ngày 15 tháng 06 năm 2016 1. TÍNH HÌNH BỆNH VIÊM MŨI DỊ ỨNG 1. Định nghĩa VMDƯ là tình trạng viêm niêm mạc mũi với vai trò của kháng thể IgE, thường xảy ra do tiếp xúc với dị nguyên đường hô hấp, với các biểu hiện bệnh lí đặc trưng bởi các triệu chứng: hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi và/hoặc ngứa mũi.
Các triệu chứng này kéo dài thường ít nhất hai hay nhiều ngày liên tiếp hoặc nhiều hơn một giờ trong hầu hết mọi ngày (ARIA-WHO 2010). Dịch tễ học bệnh viêm mũi dị ứng VMDƯ là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại viêm mũi, nó cũng là một trong những dạng dị ứng phổ biến nhất trong các rối loạn về dị ứng. Ở Việt Nam, theo nhiều nghiên cứu khác nhau, tỷ lệ VMDƯ chiếm từ 10 -18% dân số. Tại hội nghị quốc tế về dị ứng ở Stockholm tháng 6 - 1994, các tác giả cho biết tỷ lệ mắc dị ứng từ 10 -19%.
Ở Mỹ, thường xuyên có 20% dân số bị mắc chứng VMDƯ. 5 Với tỷ lệ mắc bệnh cao, dịch tễ học của VMDƯ đang được quan tâm rất nhiều. Song sự nắm bắt về dịch tễ học của VMDƯ trên thực tế rất rời rạc vì những thông tin chăm sóc sức khoẻ ban đầu đều khó tìm và ít nhiều đều bị thiếu hụt. Trong khi đó, những nghiên cứu rộng rãi ở cộng đồng đôi khi do nhiều lý do, đã không làm test dị ứng.
Vì vậy, việc chẩn đoán phân biệt VMDƯ và viêm mũi không dị ứng thường khó. Trên thế giới Trong mấy thập kỷ gần đây, những nghiên cứu trong cộng đồng ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy sự gia tăng nhanh chóng của VMDƯ nói riêng và bệnh dị ứng hô hấp nói chung. Theo ISAAC điều tra tại Vương quốc Anh (2013) tỷ lệ VMDƯ ở người lớn là 29%. Ngoài ra, tuy số liệu không đủ song người ta cũng thấy được tỷ lệ VMDƯ ngày một tăng dần ở các nước đang phát triển và công nghiệp hóa.
Ở một số nước châu Á như Hồng Kông, Thái Lan có một số nghiên cứu đưa ra tỷ lệ VMDƯ vào khoảng 40% , ,. Phần lớn nghiên cứu ở các quần thể sinh viên đại học đưa ra các thông số cao hơn đáng kể so với tỷ lệ trên, và dao động trong khoảng 12% - 21%. Các quốc gia có tỷ lệ mắc VMDƯ thấp như: Indonexia, Anbani, Romani, Georgia và Hy Lạp. Trong khi đó các nước có tỷ lệ rất cao là Australia, New Zealan và Vương quốc Anh.
Những năm 90 của thế kỷ XX, theo điều tra quốc gia cho thấy VMDƯ ở người lớn chiếm 25,9 % tại Pháp và 29% tại Vương quốc Anh trong đó viêm mũi mạn tính ở người lớn phổ biến hơn ở trẻ em. Năm 2006 - 2007, Masafumi Sakashita và cộng sự đã nghiên cứu VMDƯ ở Nhật Bản đã chỉ ra tỷ lệ VMDƯ ở người trưởng thành (20 - 49 tuổi) là 44,2% và không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi. Trong nước Là một đất nước nhiệt đới, tỉ lệ bệnh nhân bị VMDƯ quanh năm ở Việt Nam khá cao. Ô nhiễm môi trường và sự xuất hiện của những dị nguyên mới đóng vai trò tác nhân quan trọng.
Dù chưa có số liệu thống kê cụ thể nhưng VMDƯ có xu hướng ngày càng tăng cao tại thành phố và phát triển nhanh trong những năm gần đây.