Tổng quan luận án
Công trình khoa học Phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt là luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học của tác giả Đỗ Thị Hiên, được bảo vệ năm 2017 tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Kim Phượng và GS.TS Nguyễn Văn Hiệp.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ nền tảng của ngữ pháp chức năng với mô hình lý thuyết ba bình diện nhằm xem xét ngôn ngữ một cách toàn diện ở cả ba mặt: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Trong hệ thống cấu trúc nghĩa miêu tả của câu, vị từ ba diễn tố là nhóm từ vựng có số lượng lớn, khả năng hoạt động ngữ nghĩa và cú pháp phong phú. Đồng thời, đây là nhóm vị từ có cấu trúc nội tại phức tạp do có nhiều diễn tố xoay quanh để hình thành nên sự tình. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngôn ngữ vận động trong mối liên hệ ràng buộc và quy định lẫn nhau; do đó, vị từ ba diễn tố không thể nghiên cứu một cách cô lập, trừu tượng mà phải đặt vào những phát ngôn cụ thể trong đời sống giao tiếp. Mặc dù phát ngôn có vị từ ba diễn tố xuất hiện với tần suất cao trong hoạt động ngôn ngữ hàng ngày và trong văn bản nghệ thuật, song trước thời điểm luận án được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về kiểu phát ngôn này.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung chính:
- Nghiên cứu toàn diện phát ngôn có vị từ ba diễn tố để làm sáng tỏ đặc trưng của chúng trên cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
- Nhận diện và khu biệt phát ngôn có vị từ ba diễn tố với các kiểu loại phát ngôn khác trong tiếng Việt dựa trên những đặc trưng ngữ nghĩa và cú pháp.
- Cung cấp những luận điểm lý thuyết cơ bản về nhóm vị từ ba diễn tố trong mối tương quan với các nhóm vị từ còn lại (vị từ một diễn tố, vị từ hai diễn tố) từ bình diện ngữ nghĩa.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác lập 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài: khái niệm vị từ ba diễn tố, phát ngôn có vị từ ba diễn tố, cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin.
- Thống kê, phân loại các phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt.
- Phân tích và mô tả đặc điểm ngữ pháp của nhóm vị từ ba diễn tố cùng vai trò của vị từ ba diễn tố trong cấu trúc cú pháp.
- Phân tích và mô tả đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm vị từ ba diễn tố trong cấu trúc vị từ - tham thể; xem xét, phân tích các vai nghĩa của các tham thể trong cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm vị từ này.
- Phân tích khả năng hiện thực hóa cấu trúc ngữ nghĩa trong phát ngôn có vị từ ba diễn tố, từ đó rút ra kết luận về vai trò hành dụng của vị từ ba diễn tố trong quá trình hiện thực hóa ở lời nói.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt. Khái niệm phát ngôn ở đây được phân biệt rõ với câu: câu là đơn vị ngôn ngữ trừu tượng thuộc hệ thống ngôn ngữ, còn phát ngôn là đơn vị hiện thực của câu trong hoạt động giao tiếp. Phạm vi ngữ liệu khảo sát được thu thập chủ yếu từ các tác phẩm văn chương Việt Nam, kết hợp mở rộng từ báo chí, tạp chí, ca từ bài hát và các nguồn văn bản trên mạng internet nhằm phản ánh tính xác thực của đối tượng. Về phạm vi lý thuyết, luận án xuất phát từ cấu trúc ngữ nghĩa (cấu trúc nghĩa miêu tả) để làm sáng tỏ đặc trưng của từng yếu tố, sau đó soi chiếu sang cấu trúc chủ - vị, cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong chương 1, tác giả đã tiến hành tổng thuật lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài qua ba trục chính: nghiên cứu câu trên ba bình diện, nghiên cứu vị từ và nghiên cứu vị từ ba diễn tố.
Đối với lịch sử nghiên cứu câu, luận án điểm lại từ khởi nguồn thời kỳ cổ đại của Aristote cách đây hơn 2000 năm cho đến bước chuyển biến của ngữ pháp chức năng hiện đại. Xuất phát từ lý thuyết tín hiệu học của C. Peirce và Ch. Morris (1938) phân chia tín hiệu thành ba lĩnh vực (kết học, nghĩa học và dụng học), các nhà ngôn ngữ học chức năng đã xem câu là đơn vị nhỏ nhất thể hiện đồng thời cả ba bình diện này.
Về bình diện ngữ nghĩa của câu, tác giả tổng thuật các cột mốc quốc tế:
- L. Tesnière (1969) với tác phẩm Éléments de syntaxe structurale đã xây dựng Lý thuyết diễn trị (valence) từ những năm 30 của thế kỷ XX, đặt nền móng cho ngữ nghĩa học cú pháp khi xem vị từ là cái nút trung tâm (noeud) chi phối các diễn tố (actants) và xem câu như "một màn kịch nhỏ", qua đó hạ cấp chủ ngữ ngữ pháp truyền thống xuống thành một bổ ngữ/diễn tố của vị từ.
- C. Fillmore (1968) với bài viết The case of case, đề xuất ngữ pháp cách với cấu trúc nghĩa biểu hiện là cấu trúc cơ sở gồm động từ và các cách sâu (Agentive, Instrument, Dative, Factitive, Locative, Objective).
- W. Chafe (1970) coi trung tâm câu là động từ chi phối các tham thể qua các quan hệ nghĩa.
- J. Lyons (1978) đề xuất mô hình cấu trúc chủ - vị hạt nhân (nuclear predication) phản ánh một sự tình (state of affairs).
- C. Hagège (1982) đề xuất lược đồ phân biệt sự tình và tham tố thay cho việc phân loại câu thuần túy theo hình thức cú pháp chủ - vị.
- M.A.K. Halliday (1985) với ngữ pháp chức năng hệ thống, xác định bình diện biểu hiện (representation) với mô hình nghĩa gồm quá trình (process), tham tố (participants) và hoàn cảnh (circumstances), phân lập 6 kiểu quá trình.
- S. Dik (1978, 1981, 1986) xây dựng mô hình ngữ pháp chức năng với khung vị từ, phân biệt kết cấu vị ngữ hạt nhân (gồm vị từ và các tham tố bắt buộc) và kết cấu vị ngữ mở rộng (bổ sung chu tố), phân loại sự tình dựa trên hai tiêu chí [+Động] và [+Chủ ý].
Tại Việt Nam, nghiên cứu cấu trúc nghĩa của câu được kế thừa và phát triển qua các công trình của Cao Xuân Hạo (1991) về cấu trúc nghĩa miêu tả và cấu trúc đề - thuyết; Đinh Văn Đức (2001) về ngữ trị động từ; Lý Toàn Thắng (2002) về tính đặc thù ngôn ngữ của các tham tố và quan hệ nghĩa; Diệp Quang Ban (2001, 2004) với thuật ngữ vị tố (predicator), sự thể và các vai nghĩa; cùng các công trình của Nguyễn Thiện Giáp, Bùi Minh Toán, Nguyễn Văn Hiệp.
Về lịch sử nghiên cứu vị từ, luận án chỉ ra hai khuynh hướng chính trong Việt ngữ học:
- Khuynh hướng coi vị từ là một phạm trù từ loại đối lập với thể từ: Tiêu biểu là Lê Văn Lý với việc dùng các từ chứng để phân loại từ thành A, B (động từ), B' (tính từ), C; và Nguyễn Kim Thản (1977) trong chuyên luận Động từ trong tiếng Việt, phân chia thực từ thành thể từ và vị từ (gồm động từ và tính từ).
- Khuynh hướng coi vị từ là một phạm trù chức năng: Cao Xuân Hạo (1991) chỉ rõ nguồn gốc thuật ngữ verbe/adjectif từ tiếng La Tinh cổ verbum/adjectivum đều chỉ lời nói, vị từ; ông định nghĩa vị từ là từ có thể tự mình làm thành vị ngữ hoặc làm trung tâm cho ngữ đoạn vị ngữ, phân loại theo ba tiêu chí [+Động], [+Chủ ý], [+Hữu đích]. Nguyễn Thị Quy (1995) trong chuyên luận Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (Vị từ hành động) tiếp thu quan điểm này, xác định chức năng tiêu biểu của vị từ là tự làm vị ngữ hoặc hạt nhân ngữ nghĩa của vị ngữ và có khả năng tình thái hóa bằng các phụ từ chuyên dụng.
Về lịch sử nghiên cứu vị từ ba diễn tố, tác giả điểm qua các nghiên cứu trực tiếp và gián tiếp:
- Nguyễn Kim Thản (1977) phân loại động từ theo tính chất chi phối, xác lập 4 nhóm động từ có hai bổ ngữ bắt buộc: động từ phát nhận ($N_1\ V\ N_2\ N_3$), động từ có hạn chế ($N_1\ V\ N_2\ V\ N_3$), động từ gây khiến ($N_1\ V_1\ N_2\ V_2$), động từ nhận xét - đánh giá ($N_1\ V\ N_2\ C\ N_3$).
- Nguyễn Thị Quy (1995) khảo sát nhóm vị từ [+Tác động] ba diễn tố và phân chia thành 4 loại dựa trên cấu trúc tham thể (chủ thể hành động, đối thể nhận, đối thể bị tác động, đích, chất liệu, hành động gây khiến).
- Trần Văn Thư (2002) trong luận văn thạc sĩ Vị từ ngữ trị ba bước đầu phân loại 12 nhóm vị từ ngữ trị ba và khảo sát sự hiện thực hóa của chúng trong câu và văn bản.
- Lâm Quang Đông (2008) với chuyên luận Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ trao/tặng, phân tích các lớp nghĩa, vai nghĩa và tham thể ngoại vi, so sánh đối chiếu với tiếng Anh.
- Các bài viết, công trình của Cao Xuân Hạo (1991, 1992), Hoàng Trọng Phiến (1980), Nguyễn Đức Tồn (1998), Chử Thị Bích (2006) khảo sát nhóm vị từ trao/tặng, cho/biếu/tặng dưới góc độ cấu trúc thông báo, vai trò tiếp nhận và các nhân tố văn hóa - xã hội.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: các công trình đi trước phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ miêu tả sơ bộ về mặt hình thức cú pháp, hoặc nếu nghiên cứu sâu thì chỉ giới hạn ở một tiểu nhóm từ vựng cụ thể (như nhóm trao/tặng). Chưa có công trình nào khảo sát một cách toàn diện, hệ thống toàn bộ nhóm vị từ ba diễn tố và các phát ngôn chứa vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các hệ thống lý thuyết chuyên ngành của ngôn ngữ học hiện đại:
- Lý thuyết ba bình diện nghiên cứu câu của ngữ pháp chức năng: Tách bạch và xác định mối quan hệ hữu cơ giữa kết học (cấu trúc hình thức), nghĩa học (nội dung phản ánh) và dụng học (mối quan hệ với ngữ cảnh và người sử dụng). Câu được khu biệt với phát ngôn theo quan điểm của Bùi Minh Toán: câu là một hằng thể trừu tượng thuộc hệ thống ngôn ngữ, còn phát ngôn là biến thể hiện thực hóa của câu trong giao tiếp cụ thể.
- Bình diện kết học: Khảo sát hệ thống thành phần câu theo quan điểm của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (thành phần chính: chủ ngữ, vị ngữ; thành phần phụ của câu: trạng ngữ, vị ngữ phụ, khởi ngữ; thành phần phụ của từ: định ngữ, bổ ngữ; thành phần biệt lập: tình thái ngữ, phụ chú ngữ, liên ngữ, hô ngữ) và các kiểu cấu tạo ngữ pháp (câu đơn, câu phức, câu ghép).
- Bình diện nghĩa học: Trọng tâm là cấu trúc nghĩa miêu tả gồm vị từ trung tâm và hệ thống tham thể (tham thể bắt buộc/diễn tố và tham thể không bắt buộc/chu tố). Luận án tổng hợp các khung phân loại sự tình của S. Dik (hành động, tư thế, quá trình, trạng thái), M.A.K. Halliday (6 quá trình: vật chất, tinh thần, quan hệ, hành vi, phát ngôn, hiện hữu), Cao Xuân Hạo (biến cố, tồn tại, tình hình), Diệp Quang Ban (sự thể vật chất, tinh thần, quan hệ, hành vi, ngôn từ, tồn tại) và Hoàng Văn Vân (quá trình hành động, phóng chiếu, tồn tại).
- Bình diện dụng học: Tập trung vào cấu trúc đề - thuyết (theo mô hình của Cao Xuân Hạo và 5 tiêu chí xác định của Trần Kim Phượng: phương tiện đánh dấu thì/là/mà, ý nghĩa chức năng, vị trí, từ loại, khả năng lược bỏ) và cấu trúc thông tin (bắt nguồn từ thuyết phân đoạn thực tại của V. Mathesius, phân chia thành tin cũ và tin mới theo 4 tiêu chí của Trần Kim Phượng: ý nghĩa chức năng, vai trò cú pháp, vị trí, dấu hiệu hình thức; cùng các dấu hiệu nhận diện tiêu điểm thông tin như trọng âm cường điệu, thế tương phản, trợ từ, cấu trúc đảo).
- Ngữ pháp học tri nhận (Cognitive Grammar): Được vận dụng ở phần sau của luận án để giải thích trật tự tuyến tính và sự biến đổi đặc trưng, số lượng diễn tố trong phát ngôn.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng hướng tiếp cận định tính miêu tả kết hợp phân tích cấu trúc ngôn ngữ:
- Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Khảo sát ngữ cảnh phát ngôn (đồng văn bản) để xác định cấu trúc vị từ - tham thể và cấu trúc thông tin; khảo sát ngữ cảnh tình huống để xác định các vai nghĩa thực tế của diễn tố.
- Phương pháp miêu tả: Vận dụng 4 thủ pháp nghiên cứu bộ phận gồm:
- Thủ pháp phân tích ngữ trị: xác định khả năng kết hợp tiềm tàng và số lượng diễn tố mà vị từ chi phối.
- Thủ pháp thay thế: kiểm tra sự thay đổi nội dung cấu trúc khi thay thế các yếu tố đồng cấp nhằm phân biệt diễn tố và chu tố.
- Thủ pháp cải biến: biến đổi chức năng ngữ pháp nhưng giữ nguyên vốn từ để nhận diện diễn tố và vai nghĩa.
- Thủ pháp phân tích vị từ - tham thể: giải mã cấu trúc nghĩa miêu tả của vị từ ba diễn tố trong phát ngôn.
- Phương pháp phân tích cú pháp: Phân tích cấu trúc hình thức câu trong sự đối chiếu liên tục với cấu trúc nghĩa và cấu trúc ngữ dụng.
- Thủ pháp hỗ trợ: Thủ pháp so sánh để khu biệt các kiểu cấu trúc, thủ pháp thống kê và phân loại ngữ liệu để xác định các mô hình phát ngôn.
Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ các tác phẩm văn học hiện thực và lãng mạn Việt Nam, các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết, cùng các văn bản báo chí, tạp chí, lời bài hát và ngữ liệu internet thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Bố cục nội dung chính của luận án được trình bày trong 4 chương với dung lượng cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận (37 trang)
Chương này tập trung giải quyết hai nhiệm vụ lớn: điểm luận toàn diện lịch sử nghiên cứu các vấn đề liên quan và xác lập khung lý thuyết nền tảng cho toàn bộ luận án. Tác giả phân tích rành mạch sự phát triển của nghiên cứu câu từ ngữ pháp truyền thống đến ngữ pháp chức năng; hệ thống hóa các quan điểm nghiên cứu về nghĩa miêu tả, lý thuyết diễn trị, ngữ pháp cách và khung vị từ trên thế giới và tại Việt Nam.
Đồng thời, chương 1 xác lập sự phân biệt bản chất giữa câu và phát ngôn, làm rõ ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học và mối quan hệ biện chứng giữa chúng. Tác giả phân tích chi tiết hệ thống thành phần câu tiếng Việt, các kiểu cấu tạo ngữ pháp, các khung phân loại sự tình/quá trình, nghĩa tình thái (tình thái hành động phát ngôn và tình thái lời phát ngôn), cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin cùng hệ thống tiêu chí nhận diện.
Bảng dưới đây tổng hợp các mô hình phân loại sự tình và quá trình tiêu biểu được tác giả hệ thống hóa trong chương 1:
| Nhà nghiên cứu |
Tiêu chí phân loại |
Các kiểu sự tình / quá trình được xác lập |
| S. Dik (1981) |
Kết hợp tính năng động ([+Động]) và tính chủ động ([+Chủ ý]) |
4 loại sự tình: Hành động ([+Động, +Chủ ý]), Quá trình ([+Động, -Chủ ý]), Tư thế ([-Động, +Chủ ý]), Trạng thái ([-Động, -Chủ ý]). |
| M.A.K. Halliday (1985) |
Bản chất phản ánh thế giới kinh nghiệm |
3 quá trình cơ bản: Vật chất, Tinh thần, Quan hệ; 3 quá trình chuyển tiếp: Hành vi, Phát ngôn, Hiện hữu. |
| Cao Xuân Hạo (1991) |
Khung ngữ vị từ và bổ sung tính tồn tại |
3 loại sự tình: Biến cố (gồm Hành động, Quá trình), Tồn tại, Tình hình (gồm Trạng thái, Quan hệ). |
| Diệp Quang Ban (2001) |
Kết hợp quan điểm của Halliday và S. Dik |
Sự thể khái quát (Vật chất, Tinh thần, Quan hệ) và Sự thể chuyển tiếp (Hành vi, Ngôn từ, Tồn tại). |
| Hoàng Văn Vân (2002) |
Điều chỉnh hệ thống Halliday cho tiếng Việt |
3 loại quá trình: Quá trình hành động (vật chất, hành vi), Quá trình phóng chiếu (tinh thần, phát ngôn), Quá trình tồn tại (quan hệ, hiện hữu). |
Chương 2: Khái quát về vị từ ba diễn tố và phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt (34 trang)
Chương 2 đi vào nhận diện, định nghĩa và phân loại đối tượng nghiên cứu cốt lõi. Tác giả xác lập khái niệm vị từ ba diễn tố là những vị từ mà nội dung ngữ nghĩa của bản thân nó đòi hỏi bắt buộc phải có ba tham thể cơ sở (ba diễn tố) cùng tham gia để cấu thành nên sự tình. Tác giả phân tích đặc trưng ngữ nghĩa, đặc trưng cú pháp của vị từ ba diễn tố và trình bày các thủ pháp xác định diễn tố của loại vị từ này.
Căn cứ vào ngữ nghĩa và ngữ trị, luận án phân loại vị từ ba diễn tố thành các tiểu nhóm cụ thể, được thể hiện rõ qua bảng ký hiệu viết tắt của công trình:
| Ký hiệu viết tắt |
Tên tiểu nhóm vị từ ba diễn tố |
Phạm vi ngữ nghĩa biểu hiện |
| VTBP |
Vị từ ban phát |
Biểu thị hành động trao, cho, tặng, ban, phát một thực thể cho đối tượng tiếp nhận. |
| VTTN |
Vị từ tiếp nhận |
Biểu thị hành động nhận, lấy, thu nhận thực thể từ một nguồn phát. |
| VTPN |
Vị từ phát nhận |
Khái quát hành động chuyển giao hoặc trao đổi vật chất giữa các thực thể. |
| VTSK |
Vị từ sai khiến |
Biểu thị sự tác động bằng mệnh lệnh, yêu cầu điều khiển người khác thực hiện hành động. |
| VTNN |
Vị từ nói năng |
Biểu thị hành vi phát ngôn, thông báo nội dung thông tin tới người nghe. |
| VTDC |
Vị từ dời chuyển |
Biểu thị hành động làm di dời một đối thể từ vị trí xuất phát đến một vị trí đích. |
| VTBH |
Vị từ biến hóa |
Biểu thị sự tác động làm biến đổi một thực thể từ trạng thái/bản chất này sang dạng khác. |
| VTBX |
Vị từ bình xét |
Biểu thị hành động đánh giá, nhận xét, coi một đối tượng là một thực thể/tính chất nào đó. |
| VTSS |
Vị từ so sánh |
Biểu thị hành vi đối chiếu, so sánh một thực thể với một thực thể chuẩn. |
| VTNK |
Vị từ nối kết |
Biểu thị hành vi liên kết, chắp nối hoặc gắn kết các thực thể với nhau. |
Tiếp đó, chương 2 xác lập khái niệm phát ngôn có vị từ ba diễn tố, phân tích cấu trúc cú pháp cơ sở (mô hình kết hợp giữa chủ ngữ, vị từ trung tâm và hai bổ ngữ bắt buộc) và cấu trúc ngữ nghĩa cơ sở (mô hình vị từ trung tâm và ba diễn tố cốt lõi).
Chương 3: Các thành tố trong cấu trúc nghĩa miêu tả của phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt (35 trang)
Chương 3 đi sâu giải phẫu cấu trúc nội tại của nghĩa miêu tả trong phát ngôn có vị từ ba diễn tố. Nội dung chương tập trung vào:
- Vị từ trung tâm (Predicate): Được phân tích như một hạt nhân ngữ nghĩa tối cao, có vai trò chế định trực tiếp đối với số lượng, bản chất và cương vị của các diễn tố đi kèm. Vị từ quy định loại vai nghĩa mà mỗi diễn tố bắt buộc phải đảm nhiệm trong sự tình.
- Các diễn tố: Luận án lần lượt phân tích bản chất ngữ nghĩa của Diễn tố thứ nhất ($DT_1$), Diễn tố thứ hai ($DT_2$) và Diễn tố thứ ba ($DT_3$). Tùy thuộc vào bản chất của vị từ trung tâm (ban phát, sai khiến, nói năng, dời chuyển...), $DT_1$ thường là Tác thể (Agent), Người phát ngôn, hoặc Thể nghiệm thể; $DT_2$ và $DT_3$ phân bổ luân phiên giữa các vai nghĩa như Tiếp thể (Recipient), Đối thể/Khách thể (Theme/Patient), Đích (Goal), Nội dung phát ngôn, hoặc Hành động bị sai khiến.
- Mối tương quan giữa các diễn tố: Tác giả khảo sát mối tương quan đa chiều giữa các diễn tố trên cả hai bình diện đặc điểm ngữ pháp (trật tự kết hợp, quan hệ phụ thuộc) và đặc điểm ngữ nghĩa (mối quan hệ giữa tác thể - tiếp thể - đối thể; quan hệ chế định giữa chủ thể hành động và đối tượng chịu sự tác động).
Chương 4: Sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của vị từ ba diễn tố trong phát ngôn tiếng Việt (34 trang)
Chương 4 khảo sát sự chuyển hóa từ mô hình cấu trúc trừu tượng sang lời nói hành chức thực tế trong giao tiếp tiếng Việt:
- Khả năng hiện diện của các yếu tố cấu trúc nghĩa trong phát ngôn: Phân tích hai trạng thái hiện thực hóa: (1) Khả năng hiện diện đầy đủ cả ba diễn tố cùng vị từ trung tâm; (2) Khả năng hiện diện không đầy đủ (tỉnh lược hoặc khuyết thiếu một hoặc hai diễn tố) do sự chi phối của ngữ cảnh, quan hệ liên kết văn bản hoặc do chiến lược thông tin của người nói.
- Khả năng hiện thực hóa trong vai trò các chức vụ cú pháp: Khảo sát sự phân công chức năng ngữ pháp thực tế của các thành tố: vai trò cú pháp của chu tố (trạng ngữ, vị ngữ phụ, khung đề); vai trò cú pháp của các diễn tố (chủ ngữ, bổ ngữ 1, bổ ngữ 2, khởi ngữ); và vai trò cú pháp của vị từ trung tâm (vị ngữ chính, trung tâm cụm vị từ).
- Khả năng hiện thực hóa theo trật tự sắp xếp của các diễn tố nhìn từ góc độ Ngữ pháp học tri nhận: Dưới góc nhìn tri nhận, tác giả phân tích các quy luật chi phối trật tự tuyến tính của các diễn tố trong phát ngôn tiếng Việt; xem xét hiện tượng biến đổi về đặc trưng ngữ nghĩa của diễn tố và sự biến đổi về số lượng diễn tố (sự thu hẹp ngữ trị từ ba diễn tố xuống hai hoặc sự mở rộng lâm thời trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể).
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án góp phần khẳng định và làm phong phú thêm quan niệm về ba bình diện của ngôn ngữ (kết học - nghĩa học - dụng học), đồng thời chỉ ra và lý giải những hạn chế của ngữ pháp truyền thống vốn chỉ tiếp cận câu đơn thuần từ hình thức cú pháp chủ - vị hoặc phân tích mệnh đề logic.
- Thông qua việc khảo sát hệ thống các kiểu cấu trúc của phát ngôn có vị từ ba diễn tố, luận án khẳng định sự cùng tồn tại phong phú của nhiều kiểu cấu trúc trong khuôn khổ một phát ngôn (cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc nghĩa miêu tả, cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc thông tin), qua đó xác lập vị trí và chức năng hành dụng của loại phát ngôn này trong hoạt động giao tiếp.
- Góp phần xây dựng hệ tiêu chí và cách thức nhận diện các kiểu cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin khi tiếp nhận văn bản cũng như phương thức tổ chức chúng trong tạo lập văn bản.
- Góp phần xác lập phương thức nhận diện và miêu tả hệ thống vai nghĩa của các diễn tố xoay quanh vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp nguồn tư liệu ngôn ngữ học xác thực cùng kết quả nghiên cứu toàn diện, giúp các nhà nghiên cứu cú pháp học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn có cái nhìn hệ thống, sâu sắc hơn về vị từ ba diễn tố và phát ngôn có vị từ ba diễn tố trên cả ba bình diện.
- Đóng vai trò là tài liệu định hướng và gợi mở phương pháp luận cho các nghiên cứu tiếp theo đi sâu vào từng tiểu nhóm cụ thể của vị từ ba diễn tố.
- Đóng góp luận cứ khoa học ứng dụng cho công tác giải thích, phân tích ngữ nghĩa của vị từ ba diễn tố phục vụ việc biên soạn từ điển tiếng Việt, biên soạn sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người bản ngữ cũng như người nước ngoài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án cho thấy công trình chỉ tập trung đào sâu vào thành phần nghĩa miêu tả của cấu trúc ngữ nghĩa nhằm soi chiếu sang bình diện ngữ dụng, chưa thể bao quát toàn bộ các sắc thái phức tạp của thành phần nghĩa tình thái. Về mặt ngữ liệu, nguồn dữ liệu khảo sát chủ yếu tập trung trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật, báo chí và internet, chưa bao quát toàn diện các biến thể khẩu ngữ hội thoại tự nhiên trong giao tiếp đời thường.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở:
- Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt vào từng tiểu loại độc lập của nhóm vị từ ba diễn tố (như tiểu loại vị từ biến hóa, ban phát, bình xét, dời chuyển, nối kết, nói năng, phát nhận, sai khiến, so sánh, tiếp nhận) để làm rõ các nét khu biệt ngữ nghĩa vi mô.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang việc đối chiếu liên ngôn ngữ giữa phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt với các ngôn ngữ đơn lập hoặc hòa kết khác.
- Ứng dụng sâu hơn vào việc xử lý ngôn ngữ tự nhiên và chuẩn hóa định nghĩa ngữ trị vị từ trong từ điển học tiếng Việt.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Sư phạm Ngữ văn: Có thể tham khảo chương 1 để nắm bắt bức tranh toàn cảnh về lý thuyết ngữ pháp chức năng, lý thuyết diễn trị, cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin; tham khảo chương 2 và chương 3 để học hỏi phương pháp phân tích vị từ - tham thể và nhận diện vai nghĩa.
- Giảng viên giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học: Có thể khai thác chương 4 như nguồn ngữ liệu và luận cứ thực tế để giảng dạy về cơ chế hiện thực hóa cú pháp, trật tự từ và ngữ pháp học tri nhận.
- Các nhà từ điển học và chuyên gia biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt: Có thể ứng dụng hệ thống phân loại 10 tiểu nhóm vị từ ba diễn tố tại chương 2 để xây dựng khung giải nghĩa ngữ vị từ và cấu trúc câu mẫu trong từ điển và sách dạy tiếng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt khái niệm câu và phát ngôn như thế nào?
Tác giả dựa trên quan điểm ngữ pháp chức năng để phân định: câu là đơn vị ngôn ngữ trừu tượng thuộc hệ thống ngôn ngữ, mang tính khái quát, mô hình hóa và có số lượng hữu hạn; trong khi đó, phát ngôn là đơn vị hiện thực của câu trong hoạt động giao tiếp, được lấp đầy bằng các từ ngữ cụ thể, mang ngữ cảnh, ngữ điệu, mục đích giao tiếp cụ thể và có số lượng vô hạn.
2. Vị từ trung tâm đóng vai trò gì đối với các diễn tố trong cấu trúc nghĩa miêu tả?
Vị từ trung tâm được xem là hạt nhân ngữ nghĩa của cấu trúc nghĩa miêu tả, đóng vai trò là "cái nút" (noeud) chi phối toàn bộ cấu trúc. Vị từ chế định số lượng diễn tố bắt buộc đi kèm, quy định tư cách và gán các vai nghĩa cụ thể (như Tác thể, Tiếp thể, Đối thể, Đích...) cho từng diễn tố tham gia vào sự tình.
3. Luận án sử dụng những thủ pháp miêu tả chuyên ngành nào để nhận diện vị từ ba diễn tố?
Luận án vận dụng 4 thủ pháp miêu tả chính: (1) Thủ pháp phân tích ngữ trị nhằm xác định khả năng kết hợp tiềm tàng và số lượng diễn tố chi phối; (2) Thủ pháp thay thế nhằm phân biệt tham thể bắt buộc (diễn tố) với tham thể mở rộng (chu tố); (3) Thủ pháp cải biến chức năng ngữ pháp để xác định vai nghĩa; (4) Thủ pháp phân tích vị từ - tham thể để giải mã cấu trúc nghĩa miêu tả.
4. Dựa vào đâu để phân biệt diễn tố và chu tố trong cấu trúc câu?
Diễn tố (tham thể bắt buộc hay tham thể cơ sở) là thành phần mà sự hiện diện của nó do bản chất nội dung nghĩa của vị từ trung tâm đòi hỏi bắt buộc phải có; nếu thiếu diễn tố, cấu trúc nghĩa của sự tình sẽ không hoàn chỉnh. Chu tố (tham thể không bắt buộc hay tham thể mở rộng) là thành phần bổ sung phương diện nghĩa (thời gian, địa điểm, cách thức...), không do bản chất vị từ quy định và có thể tỉnh lược mà không làm phá vỡ cấu trúc vị từ - tham thể cơ bản.
5. Luận án phân loại sự tình dựa trên những tiêu chí lý thuyết nào?
Luận án kế thừa và tổng thuật các tiêu chí phân loại của S. Dik (dựa trên hai chiều đối lập tính năng động [+Động] và tính chủ động [+Chủ ý] để chia thành hành động, tư thế, quá trình, trạng thái), M.A.K. Halliday (phân chia 6 kiểu quá trình theo kinh nghiệm thế giới khách quan), Cao Xuân Hạo (chia thành biến cố, tồn tại, tình hình), Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Vân, nhằm làm cơ sở đối chiếu và miêu tả sự tình do vị từ ba diễn tố biểu hiện.
Kết luận
Luận án Phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt của tác giả Đỗ Thị Hiên là một công trình nghiên cứu ngôn ngữ học thực nghiệm định tính được triển khai chặt chẽ dựa trên hệ hình ngữ pháp chức năng ba bình diện kết học - nghĩa học - dụng học. Bằng việc kết hợp hệ thống phương pháp phân tích ngữ cảnh, phân tích cú pháp và các thủ pháp miêu tả ngữ trị, luận án đã giải mã thấu đáo cấu trúc nghĩa miêu tả, sự chế định của vị từ trung tâm và cơ chế hiện thực hóa linh hoạt của vị từ ba diễn tố trong phát ngôn giao tiếp cụ thể. Công trình không chỉ giải quyết trọn vẹn khoảng trống nghiên cứu mang tính hệ thống về nhóm vị từ ngữ trị ba trong tiếng Việt mà còn mang lại những giá trị lý luận và ứng dụng thực tiễn cho công tác nghiên cứu cú pháp, biên soạn từ điển và giảng dạy tiếng Việt.