Luận án về vị từ và diễn tố trong tiếng Việt

Tài liệu nghiên cứu Luận án phát ngôn vị từ diễn tố trong tiếng việt, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2017

165
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.2. Lịch sử nghiên cứu câu trên ba bình diện

1.3. CÂU VÀ PHÁT NGÔN

1.4. LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN NGHIÊN CỨU CÂU

1.4.1. Bình diện kết học (ngữ pháp)

1.4.2. Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa)

1.4.3. Bình diện dụng học (ngữ dụng)

1.4.4. Mối quan hệ giữa ba bình diện ngữ nghĩa - ngữ pháp - ngữ dụng

2. CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ VỊ TỪ BA DIỄN TỐ VÀ PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT

2.1. KHÁI QUÁT VỀ VỊ TỪ BA DIỄN TỐ

2.1.1. Xác lập khái niệm vị từ ba diễn tố

2.1.2. Đặc trưng của vị từ ba diễn tố

2.1.3. Phân loại vị từ ba diễn tố

2.1.4. Các thủ pháp xác định diễn tố của vị từ ba diễn tố

2.2. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ BA DIỄN TỐ

2.2.1. Xác lập khái niệm phát ngôn có vị từ ba diễn tố

2.2.2. Cấu trúc cú pháp cơ sở của phát ngôn có vị từ ba diễn tố

2.2.3. Cấu trúc ngữ nghĩa cơ sở

3. CHƯƠNG 3: CÁC THÀNH TỐ TRONG CẤU TRÚC NGHĨA MIÊU TẢ CỦA PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ BA DIỄN TỐ TRONG TIẾNG VIỆT

3.1. VỊ TỪ TRUNG TÂM (PREDICATE)

3.2. Sự chế định của vị từ đối với các diễn tố

3.2.1. Diễn tố thứ nhất

3.2.2. Diễn tố thứ hai

3.2.3. Diễn tố thứ ba

3.3. Mối tương quan giữa các diễn tố

3.4. Đặc điểm ngữ pháp

3.5. Đặc điểm ngữ nghĩa

4. CHƯƠNG 4: SỰ HIỆN THỰC HÓA CẤU TRÚC NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA VỊ TỪ BA DIỄN TỐ TRONG PHÁT NGÔN TIẾNG VIỆT

4.1. KHẢ NĂNG HIỆN DIỆN CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC NGHĨA TRONG PHÁT NGÔN

4.1.1. Khả năng hiện diện đầy đủ

4.1.2. Khả năng hiện diện không đầy đủ

4.2. KHẢ NĂNG HIỆN THỰC HÓA TRONG VAI TRÒ CÁC CHỨC VỤ CÚ PHÁP CỦA CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC TRONG PHÁT NGÔN

4.2.1. Khả năng hiện thực hóa trong vai trò các chức vụ cú pháp của chủ tố

4.2.2. Khả năng hiện thực hóa trong vai trò các chức vụ cú pháp của các diễn tố

4.2.3. Khả năng hiện thực hóa trong vai trò các chức vụ cú pháp của vị từ trung tâm

4.3. KHẢ NĂNG HIỆN THỰC HÓA THEO TRẬT TỰ SẮP XẾP CỦA CÁC DIỄN TỐ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGỮ PHÁP HỌC TRI NHẬN

4.3.1. Một số vấn đề của Ngữ pháp học tri nhận

4.3.2. Trật tự của các diễn tố

4.3.3. Biến đổi về đặc trưng

4.3.4. Biến đổi về số lượng diễn tố

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUY ƢỚC VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu vị từ và diễn tố trong tiếng Việt

Nghiên cứu về vị từdiễn tố trong tiếng Việt đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học. Vị từ, với vai trò trung tâm trong cấu trúc câu, không chỉ thể hiện hành động mà còn phản ánh các mối quan hệ ngữ nghĩa phức tạp. Diễn tố, với chức năng bổ sung, tạo nên sự phong phú cho ngữ nghĩa của câu. Việc hiểu rõ về vị từ và diễn tố giúp làm sáng tỏ cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt.

1.1. Khái niệm vị từ và diễn tố trong ngữ pháp tiếng Việt

Vị từ được định nghĩa là thành phần chính trong câu, thể hiện hành động hoặc trạng thái. Diễn tố là các thành phần bổ sung cho vị từ, giúp làm rõ nghĩa và tạo nên cấu trúc câu hoàn chỉnh.

1.2. Lịch sử nghiên cứu vị từ và diễn tố

Nghiên cứu về vị từ và diễn tố đã có từ lâu, nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ trong những thập kỷ gần đây nhờ vào sự phát triển của ngữ pháp chức năng và các lý thuyết ngôn ngữ hiện đại.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu vị từ và diễn tố

Mặc dù có nhiều nghiên cứu, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết trong việc phân tích vị từdiễn tố. Một trong những thách thức lớn nhất là xác định rõ ràng các loại vị từ và diễn tố, cũng như mối quan hệ giữa chúng trong cấu trúc câu. Điều này đòi hỏi các phương pháp nghiên cứu mới và cách tiếp cận đa chiều.

2.1. Những khó khăn trong việc phân loại vị từ

Việc phân loại vị từ theo số lượng diễn tố đi kèm gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng và phức tạp của ngôn ngữ. Các nhà nghiên cứu cần có tiêu chí rõ ràng để phân loại chính xác.

2.2. Thách thức trong việc xác định diễn tố

Diễn tố có thể thay đổi vai trò và ý nghĩa tùy thuộc vào ngữ cảnh. Việc xác định vai trò của diễn tố trong câu là một thách thức lớn trong nghiên cứu ngữ nghĩa.

III. Phương pháp nghiên cứu vị từ và diễn tố hiệu quả

Để nghiên cứu vị từdiễn tố một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp phân tích ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Các phương pháp này giúp làm rõ cấu trúc và chức năng của vị từ trong câu, từ đó hiểu rõ hơn về ngữ nghĩa của chúng.

3.1. Phương pháp phân tích ngữ cảnh

Phân tích ngữ cảnh giúp xác định vai trò của vị từ và diễn tố trong các phát ngôn cụ thể, từ đó làm rõ ý nghĩa của chúng trong giao tiếp.

3.2. Phương pháp miêu tả và phân tích cú pháp

Sử dụng phương pháp miêu tả và phân tích cú pháp giúp xác định cấu trúc ngữ pháp của vị từ và diễn tố, từ đó làm rõ mối quan hệ giữa chúng trong câu.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu vị từ và diễn tố

Nghiên cứu về vị từdiễn tố không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và biên soạn tài liệu ngôn ngữ. Việc hiểu rõ về chúng giúp cải thiện khả năng giao tiếp và viết văn trong tiếng Việt.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt

Nghiên cứu vị từ và diễn tố có thể giúp giáo viên thiết kế các bài học hiệu quả hơn, giúp học sinh hiểu rõ hơn về cấu trúc câu và ngữ nghĩa.

4.2. Ứng dụng trong biên soạn từ điển

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc biên soạn từ điển, giúp người học nắm bắt được cách sử dụng vị từ và diễn tố trong ngữ cảnh cụ thể.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu vị từ và diễn tố

Nghiên cứu về vị từdiễn tố trong tiếng Việt đang mở ra nhiều hướng đi mới. Cần tiếp tục khai thác và phát triển các phương pháp nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa các vấn đề liên quan đến chúng. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều giá trị cho ngôn ngữ học và giáo dục.

5.1. Tương lai của nghiên cứu vị từ

Nghiên cứu vị từ sẽ tiếp tục phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh ngôn ngữ học hiện đại và sự giao thoa giữa các ngôn ngữ.

5.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần có các nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa vị từ và diễn tố trong các ngữ cảnh khác nhau, từ đó làm rõ hơn về ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng.

15/07/2025
Luận án phát ngôn vị từ diễn tố trong tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục nguon ngữ liệu, nội dung chính của luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ s lí luận (gom 37 trang) Chƣơng 2: Khái quát về vị từ ba diễn tố và phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt (gom 34 trang) Chƣơng 3: Các thành tố trong cấu trúc ngh a miêu t của phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt (gom 35 trang) Chƣơng 4: Sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp và ngữ ngh a của vị từ ba diễn tố trong phát ngôn tiếng Việt (gom 34 trang) 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Ở chƣơng 1, chúng tôi trình bày hai nội dung cơ bản: (1) Điểm lại những công trình và những thành tựu liên quan đến luận án) và (2) Trình bày những nội dung lí thuyết làm tiền đề để giải quyết các vấn đề đƣợc đặt ra trong luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu câu trên ba bình diện Câu là một đơn vị đƣợc nghiên cứu từ khá sớm - từ thời cổ đại cách đây 2000 năm mà khơi nguon là Aristotle. Mặc dù đã đƣợc nhiều khuynh hƣớng, trƣờng phái ngôn ngữ học trên thế giới nghiên cứu nhƣng chỉ đến khi ngữ pháp chức năng với lí thuyết ba bình diện soi sáng thì câu mới đƣợc xem x t một cách toàn diện, sâu sắc và thỏa đáng.

Xuất phát từ lí luận về tín hiệu học của C. Peirce và Ch. Morris, câu bắt đầu đƣợc nghiên cứu trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học. - Kết học (Syntactics): nghiên cứu tín hiệu trong mối quan hệ với các tín hiệu khác.

- Nghĩa học (Semantics): nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với hiện thực bên ngoài mà tín hiệu biểu thị. Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, câu với tƣ cách là một loại tín hiệu, cũng cần đƣợc xem xét từ ba bình diện là kết học, nghĩa học và dụng học. “Câu chính là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ trong đó c ba bình diện đều được the hiện” [46, tr. Đây là sự khác biệt rất lớn so với quan niệm của ngữ pháp truyền thống vốn chỉ xem xét câu ở phƣơng diện cú pháp (ngữ pháp hình thức) mà chƣa quan tâm tới bình diện nghĩa và bình diện sử dụng.

Cho nên, có thể coi thành tựu lớn nhất của ngữ pháp chức năng là đã phân giới đƣợc ba bình diện khác nhau: bình diện kết học (cấu trúc hình thức của câu), bình diện nghĩa học (nghĩa của câu), bình diện dụng học (phƣơng diện sử dụng câu). Giữa ba bình diện này, vừa có tính độc lập, vừa có mối quan hệ khăng khít với nhau nhƣ Cao Xuân Hạo nhận xét “Các bình diện ấy tồn tại vì nhau và nhờ có nhau, cho nên không the hieu thấu đáo bất cứ bình diện nào nếu không liên hệ với hai bình diện kia, và nhiệm vụ của ngữ pháp chức năng là xác minh mối quan hệ giữa c ba bình diện” [46, tr. Lịch sử nghiên cứu câu trên bình diện ngữ nghĩa Bình diện ngữ nghĩa, đặc biệt là nghĩa biểu hiện, đƣợc các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ khá sớm. Trên thế giới, việc nghiên cứu câu trên phƣơng diện nghĩa bắt đầu từ những luận đề chính yếu của L.Tesnière về cấu trúc tham tố của câu.

Cấu trúc này đƣợc ông xây dựng vào những năm 30 của thế kỉ XX với tên gọi Lí thuyết diễn trị (valence). Quan niệm của L.Tesnière là một bƣớc tiến đáng kể trong cố gắng tách ngôn ngữ học ra khỏi ảnh hƣởng của logic học và đặt nền móng cho ngữ nghĩa học của cú pháp. Bởi ngữ pháp truyền thống, do chịu ảnh hƣởng của chủ nghĩa duy lí nên đã chủ trƣơng phân tích câu theo cấu trúc của mệnh đề, gom hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, tƣơng đƣơng với chủ thể (S) và vị thể (P) của mệnh đề. Trong khi đó, đối với Tesnière, ngữ pháp là vấn đề của ngôn ngữ chứ không phải là của logic.

Theo ông, “cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh vị từ và các diễn tố (actants) làm bổ ngữ cho nó. Chủ ngữ chẳng qua là một trong các bổ ngữ đó. Mỗi vị từ bieu hiện “một màn kịch nhỏ”, nó có một diễn trị (valence) riêng được the hiện trong số lượng các diễn tố của nó” [D n theo 46, tr. Nhƣ vậy, theo quan điểm của Tesnière thì “khái niệm chủ ngữ trong quan niệm của ngữ pháp truyền thống đã bị hạ cấp: chủ ngữ không còn đóng vai trò là một trong hai thành phần trung tâm của câu nữa, mà chỉ đóng vai trò tương đương với các bổ ngữ” [55, tr.

Tức là, cả chủ ngữ và bổ ngữ đều là các diễn tố của vị từ vị ngữ và chịu sự quy định của vị từ vị ngữ. Với lí thuyết này, ông đã gợi ra một giải pháp nghĩa học độc lập cho việc phân tích câu và do đó, có thể xem Tesnière là ngƣời đã đặt nền móng cho nghĩa học của cú pháp. Tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này, C. Ông gọi cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu là cấu trúc cơ sở.

Và ông quan niệm rang câu bao gom một động từ và một hay nhiều danh ngữ, m i danh ngữ liên hệ với động từ theo một quan hệ cách cụ thể và m i quan hệ cách chỉ xuất hiện một lần trong câu đơn. Nhƣ vậy, Fillmore cũng là một trong những nhà ngôn ngữ học đầu tiên quan tâm tới cấu trúc nghĩa của câu và coi cấu trúc nghĩa biểu hiện là yếu tố quyết định tới cấu trúc cú pháp của câu. Quan điểm của Chafe (1970) về cấu trúc nghĩa của câu cũng tƣơng tự nhƣ Fillmore. Chafe cũng coi trung tâm của câu là động từ, quanh nó là các tham thể thể hiện các đối tƣợng khác nhau mà nó chi phối thông qua các quan hệ nghĩa khác nhau.

Lyons (1978) lại đƣa ra một danh sách lƣợc đo câu (cấu trúc hạt nhân) mà ông thấy có thể phát hiện, trên cơ sở thuần túy ngữ pháp, trong một số rất lớn các ngôn ngữ không có quan hệ thân thuộc gì với nhau, bao gom các yếu tố vị từ, danh từ và tính từ. Còn theo quan điểm của J. 9 Lyons (1978), “một cấu trúc chủ - vị hạt nhân (nuclear predication) xét toàn bộ bieu thị một sự tình (state of affairs) được xác định b i cái thuộc tính hay mối quan hệ do vị ngữ bieu thị liên kết các thực the do các danh tố bieu thị” [46, tr. Một tác giả khác, C.

Hagège (1982), cho rang không thể phân loại câu theo tiêu chuẩn hình thức cú pháp chủ - vị và ông đƣa ra lƣợc đo một bên là sự tình, một bên là tham tố. Halliday (1985) đã trở thành nhà ngôn ngữ học ngƣời Anh nổi tiếng thế giới vì đã xây dựng đƣợc lí thuyết chức năng hệ thống, một lí thuyết đã thu hút sự quan tâm đáng kể và có tầm ảnh hƣởng lớn đến nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới, trong đó có các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam. Ông gọi bình diện nghĩa bang thuật ngữ chính xác hơn là bình diện biểu hiện (representation) “tức là cái phần nằm trong nội dung nghĩa được coi là phản ánh một sự tình được rút ra từ cái thế giới được miêu tả, bên cạnh những bình diện nội dung khác của câu khi nó được xem xét như một thông điệp” [46, tr. Theo ông, “xét trên bình diện bieu hiện, câu diễn đạt một quá trình (process), được cảm thụ như một the trọn vẹn, nhưng khi bieu hiện nó trong lời nói, ta lại phân tích nó thành một mô hình nghĩa (semantic configuration) gồm có ba yếu tố: bản thân quá trình, các tham tố (participants) trong quá trình, và cái hoàn cảnh (cirumstances) có liên hệ với quá trình” [46, tr.

Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học đã tiếp thu chọn lọc những thành tựu nghiên cứu về bình diện nghĩa của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới. Tiêu biểu là tác giả Cao Xuân Hạo (1991), theo ông nghĩa của câu không đơn giản là phép cộng nghĩa của các từ ngữ trong câu. Nghĩa của câu có nhiều tầng bậc. Ông nhấn mạnh cấu trúc đề - thuyết (theme - rheme) và tiêu điểm thông báo của câu.

Tác giả Đinh Văn Đức (2001) lại không trực tiếp đề cập đến cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu mà bàn về một khía cạnh quan trọng: ngữ trị của động từ, vì động từ hay vị từ là cái cốt lõi của câu, là trung tâm của câu. Tác giả Lý Toàn Thắng (2002), về cơ bản, ủng hộ quan điểm của Cao Xuân Hạo về cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu. Tuy nhiên, ông cũng nhận định thêm rang “một cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ này có the không có tương đương tuyệt đối trong một ngôn ngữ khác, mặc dù cùng mô tả một sự tình như nhau, một “kịch cảnh” như nhau. Sự khác nhau đó the hiện số lượng tham tố [bắt buộc] và vai nghĩa/quan hệ nghĩa của các tham tố đó với động từ” [78, tr.

Quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban (2004) về nghĩa biểu hiện của câu vừa có nét tƣơng đong lại vừa có nét khác biệt so với các tác giả trên. Ông không dùng thuật ngữ vị từ mà thay bang vị tố (predicator) là yếu tố chính, là đỉnh của câu. Ông nhận định “câu (hay cú) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm 10 thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được d ng đe diễn đạt một sự the (hay một sự việc)” [7, tr. “Cấu trúc nghĩa bieu hiện gồm có phần nêu đặc trưng hay quan hệ, gọi gọn là sự the, và các vai nghĩa, chúng hợp lại tạo nên sự the của câu (sự việc được phản ánh)” [7, tr.

Ngoài các tác giả kể trên, Nguyễn Thiện Giáp [39], Bùi Minh Toán [93], Nguyễn Văn Hiệp [55],… cũng quan tâm và nghiên cứu về bình diện nghĩa của câu. Nhìn chung, trong các công trình của mình, các tác giả đã cung cấp cho ngƣời đọc một bức tranh cần thiết và đầy đủ về cấu trúc ngữ nghĩa của câu. Dù diễn đạt bang nhiều cách khác nhau, song về cơ bản, họ đều thống nhất: cái sự tình đƣợc phản ánh vào trong câu qua điểm nhìn, sự tri nhận của ngƣời nói đƣợc gọi là nghĩa miêu tả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu vị từ và diễn tố trong tiếng Việt" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cấu trúc ngữ pháp và cách sử dụng vị từ trong ngôn ngữ Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của vị từ mà còn chỉ ra vai trò của chúng trong việc hình thành diễn tố, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp và viết lách.

Để mở rộng kiến thức của bạn về ngữ pháp tiếng Việt, bạn có thể tham khảo tài liệu Hướng dẫn phân loại hành động cầu khiến, nơi cung cấp thông tin chi tiết về cách phân loại các hành động trong câu. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ cấu trúc ngữ nghĩa ngữ dụng của phép nối trong tiếng việt so sánh với tiếng anh sẽ giúp bạn so sánh cấu trúc ngữ nghĩa giữa tiếng Việt và tiếng Anh, mở rộng hiểu biết về ngôn ngữ học. Cuối cùng, tài liệu Luận văn nhóm từ ngữ có yếu tố miệng trong tiếng việt sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các nhóm từ có yếu tố miệng, giúp bạn nắm bắt được sự phong phú của ngôn ngữ.

Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều khía cạnh mới trong việc nghiên cứu và sử dụng tiếng Việt.