phần Mở đầu, có nhiều quan điểm không thống nhất trong việc phân loại có/không có động từ cầu khiến, hoặc lẫn lộn giữa động từ cầu khiến với động từ gây khiến. Ngay trong cách phân loại câu theo mục đính phát ngôn, ngữ pháp truyền thống vốn đã chia câu tiếng Việt gồm: câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần thuật; nhưng đến nay đã có tác giả đặt lại vấn đề: “Không coi câu cầu khiến là một kiểu câu riêng trong tiếng Việt mà chỉ là một dạng của câu trần thuật” [15,tr. Trong các công trình nghiên cứu gần đây, ý nghĩa cầu khiến trong tiếng Việt đã được xác định có phần rõ hơn. Tác giả Bùi Thị Kim Tuyến [39,tr.46] chỉ ra các phương thức thể hiện ý nghĩa cầu khiến trong tiếng Việt như sau: - Phương thức trực tiếp: + Phương thức tỉnh lược chủ ngữ ở ngôi thứ hai: Dậy!Dậy!Dậy! + Phương thức dùng tiểu từ tình thái: Đấy muốn thì ăn đi!.
+ Phương thức dùng vị từ, phụ từ tình thái: Hãy nhớ lấy lời tôi! + Phương thức dùng vị từ ngôn hành: Bố cấm con hút thuốc! - Phương thức gián tiếp: + Dùng hình thức câu khẳng định: Mẹ muốn con chăm chỉ học bài. + Dùng hình thức câu nghi vấn: Cái áo mưa đâu rồi nhỉ? Chu Thị Thủy An khẳng định: “Một câu ngôn hành có vị ngữ là một động từ ngữ vi có ý nghĩa cầu khiến sẽ trở thành một câu cầu khiến” [TL1] và công nhận một danh sách gồm 13 động từ mang ý nghĩa cầu khiến: cấm, cho, cho phép, đề nghị, khuyên, nhờ, mời, lạy, ra lệnh, van, xin, xin phép, yêu cầu. Nguyễn Thị Lương chỉ ra 32 động từ biểu thị hành động cầu khiến trong tiếng Việt là: yêu cầu, ra lệnh, hạ lệnh, lệnh, chỉ thị, đề nghị, kiến nghị, chỉ định, phân công, phái, cấm, nghiêm cấm, buộc, bắt, cấm chỉ, xin phép, can, bảo, cử, khuyên, mời, xin, cầu, cầu xin, cầu mong, năn nỉ, nài nỉ, nài xin, van, van nài, van xin, nhờ [TL24]. Vũ Thị Thanh Hương cho rằng ở nghĩa hẹp, cầu khiến được hiểu là các hành động mà S thực hiện nhằm buộc H làm một điều gì đó theo ý muốn của mình để đem lại lợi ích cho S và thường gây thiệt hại cho H; ở nghĩa rộng, cầu khiến là hành vi mà thông qua đó S muốn tạo ra bất kỳ một sự thay đổi nào trong hành động của H bất kể hành động đó có lợi hay hại cho S hay H; theo đó, cầu khiến không chỉ bao gồm ra lệnh, sai bảo, yêu cầu, nhờ vả, mà còn cả mời mọc, xin phép [20,tr.
Đây cũng là quan điểm chúng tôi thừa nhận khi xem xét các vấn đề tiếp theo. Hành động cầu khiến Cầu khiến là hành động được thực hiện bằng một phát ngôn ngữ vi. Khi yêu cầu, sai khiến ai làm một việc gì đó, người nói phải thực hiện ngay một phát ngôn mà cái lõi của nó phải là một biểu thức ngữ vi mang ý nghĩa cầu khiến. Theo cách phân loại của Austin, cầu khiến là một hành vi tại lời.Austin phân các hành động ngôn ngữ thành 3 loại lớn: hành vi tạo lời (locutionary act) , hành vi mượn lời (perlocutionary act) và hành vi tại lời (illocutionary act).
Hành vi tại lời là hành vi người nói thực hiện ngay khi phát ngôn. Hiệu quả của những hành vi này nằm ngay trong hiệu lực của phát ngôn (lực ngôn trung). Chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với trước khi phát ngôn. Chẳng hạn, khi ra lệnh cho ai, ngay sau đó chúng ta phải chịu trách nhiệm về cái lệnh của mình và đặt người nghe vào tình trạng phải thực hiện (hay không thực hiện) lệnh của chúng ta.
Hành vi tại lời là một hành vi có đích, được quy ước và có thể chế (dù không được hiển ngôn) mà mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ phải tuân theo. Theo Austin có 3 điều kiện để đảm bảo hành vi tại lời thực hiện được [dẫn theo Đỗ Hữu Châu-6,tr.112]: i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả cũng có tính quy ước; hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong thủ tục; ii) Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ; iii) Thông thường thì những người thực hiện hành vi ở lời phải có ý nghĩ, tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và khi hành động diễn ra thì ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có. Searle bổ sung thêm các điều kiện cần để cho một hành vi tại lời đạt hiệu quả đúng với đích của nó: i) Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành động. Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của người nói hay một hành động của người nghe.
ii) Điều kiện chuẩn bị: đó là những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và người nghe. iii) Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn. iv) Điều kiện căn bản: đây là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi phát ngôn. Ông miêu tả các điều kiện của một hành động thỉnh cầu như sau: - Nội dung mệnh đề: hành vi tương lai A của người nghe H.
- Chuẩn bị: H có khả năng thực hiện A (theo chủ ý của người nói S). Nếu không thỉnh cầu thì cả đối với S cả đối với H không chắc rằng H sẽ tự thực hiện A bất kể thế nào. - Chân thành: S mong muốn rằng H sẽ thực hiện A. - Căn bản: nhằm dẫn H đến việc thực hiện A.
Như vậy có thể nói, hành động cầu khiến là một hành động ngôn từ nhằm điều khiển một đối tượng thực hiện một hành động nào đó. Phân loại hành động cầu khiến Theo hướng phân loại của Austin và Grice, tác giả Bùi Thị Kim Tuyến đã chia hành động cầu khiến gồm hai loại [39,tr.35]: - Cầu khiến cạnh tranh: là loại HĐCK với lợi ích của việc thực hiện thường thuộc về người nói hoặc trung hòa hoặc không thuộc về người nghe. Đó là những hành động như: ra lệnh, thỉnh cầu, nhờ vả, xin phép,v. Xét về vị thế giao tiếp, loại này có thể chia ra hai loại: vị thế người nói cao hơn người nghe (ra lệnh, bắt buộc), vị thế người nói thấp hơn hoặc ngang bằng người nghe (thỉnh cầu, nhờ vả,v.) - Cầu khiến hòa đồng: là loại HĐCK với lợi ích của việc thực hiện thường thuộc về người nghe hoặc trung hòa hoặc không thuộc về người nói.
Đó là những hành động như: khuyên răn, mời mọc,v. Cũng có quan điểm căn cứ vào phương thức thể hiện, chia HĐCK thành HĐCK trực tiếp và HĐCK gián tiếp [x. Căn cứ vào lý thuyết hành vi ngôn ngữ và các quy tắc hội thoại, chúng tôi đề nghị có bốn cách phân loại HĐCK như sau: a) HĐCK thực hiện/không thực hiện một việc. - HĐ thực hiện: sai, nhờ, mời, phân công,v.
- HĐ không thực hiện: can, cấm, nghiêm cấm, v. b) HĐCK có lợi/không có lợi đối với người nghe. - HĐ có lợi đối với người nghe: khuyên, mời, cử,v. - HĐ không có lợi đối với người nghe: ra lệnh, bức, cấm,v.
c) HĐCK lịch sự/không lịch sự. - HĐ lịch sự: xin, mời, xin mời, xin phép,v. - HĐ không lịch sự: cấm, buộc, yêu cầu, đề nghị,v. d) HĐCK có vai giao tiếp ngang bằng/không ngang bằng.
- Ngang bằng: bảo, can, nhờ, v. - Không ngang bằng: yêu cầu, cấm, van xin, khẩn cầu,v. Thật ra, sự phân loại này chỉ mang tính tương đối vì trong thực tế nói năng việc nhận diện đích tại lời, các điều kiện mệnh đề, các vai tham thoại hoặc mức độ lịch sự/không lịch sự,v. còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố của ngữ cảnh.
Chẳng hạn, trong phong cách hành chính, hành vi xin được sử dụng ở mọi vai giao tiếp. Ví dụ: (1) Xin các đồng chí cho biểu quyết! (2) Tôi xin được phát biểu ý kiến! Đối với hành vi mời, tùy hoàn cảnh giao tiếp mà có lợi hoặc không có lợi đối với người nghe: (3) Tôi mời anh đi ra ngay! (4) Mời anh lên hàng ghế trên ngồi! Chấp nhận việc phân loại theo nhiều tiêu chí như trên sẽ giúp ta hiểu được đặc điểm hoạt động của HĐCK dưới nhiều giác độ. Vị từ cầu khiến 1. Vị từ “Vị từ là một từ có thể tự mình làm thành một vị ngữ (hay một ngữ đoạn biểu thị nội dung của cái sự tình được trần thuật trong câu) hoặc làm trung tâm cho ngữ đoạn ấy” [14,tr.
Liên quan đến định nghĩa trên, cần nói rõ thêm mấy vấn đề sau: Câu trong tiếng Việt có hai thành phần chính. Có nhiều cách gọi tên khác nhau đối với hai thành phần này (Chủ ngữ - Vị ngữ, Chủ đề - Thuật đề, Đề - Thuyết,v.) nhưng về cơ bản các tác giả đều thống nhất mỗi thành phần là một ngữ đoạn có cấp bậc cao nhất trong các bộ phận bậc dưới câu. Ngữ đoạn ở thành phần thứ hai là ngữ vị từ (vị ngữ). Ngữ vị từ làm cái lõi của sự tình do một vị từ đảm nhiệm.
Căn cứ vào nghĩa biểu hiện người ta chia vị từ thành hai loại: VT biểu thị nội dung sự tình (một hành động, một trạng thái, một tư thế, một quá trình) và VT tình thái biểu thị thái độ của người nói đối với nội dung sự tình hoặc với tham tố của sự tình. Đăc điểm của vị từ được xem xét ở nghĩa của VT và các tham tố (diễn tố và chu tố) của nó. Diễn tố là tham tố bắt buộc cùng với VT tạo thành vị ngữ hạt nhân. Chu tố là tham tố không bắt buộc, bổ sung cho VN hạt nhân, là thành phần mở rộng của VN hạt nhân.
Trong kết hợp cú pháp với VT, các tham tố đảm nhận một số vai nghĩa nhất định (do một ngữ danh từ, một ngữ vị từ, một tiểu cú biểu hiện) như: vai tác thể, vai hành thể, vai động thể, vai nghiệm thể, vai đương thể, vai tạo thể, vai tiếp thể, vai mục tiêu, vai đích, vai nguồn, vai công cụ, vai vị trí, vai thời gian, vai nguyên nhân, vai mục đích, vai phương thức, vai nội dung, v. Là một ngữ đoạn biểu hiện nội dung của sự tình, vị từ có thể đảm đương một trong các chức năng cú pháp sau: làm một thành phần chính của câu, làm trung tâm cho một ngữ đoạn, làm phụ ngữ cho một ngữ đoạn chính phụ có bậc cao hơn.