Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây cà chua 1.1 Phân loài khoa học Cà chua có tên khoa học là: Solanum lycopersicum L thuộc ho Solanaceae Danh pháp 2 phan là: Solanum lycopersicum L. Nguồn gốc: Mỹ 1.2 Giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế Cà chua thuộc loại rau ăn qua, quả ca chua ngoài giá trị dinh dưỡng cao được sử dụng dé ăn tươi, nau nướng, là nguyên liệu cho chế biến hàng chục loại sản phẩm khác nhau, còn có giá trị được lý không thể phủ nhận. Sản xuất cà chua là ngành hiệu quả cao do nhu cầu tiêu dùng tăng đây cũng là cây có tiềm năng về năng suất hơn các cây trồng khác (Trần Khắc Thi, 2012). Theo bộ Y tế - cục An toàn thực phẩm lợi ích của cà chua đối với sức khỏe bao gồm cải thiện thị lực; khỏe dạ dày; én định huyết áp - đường huyết; đẹp dáng - sáng da; phòng tránh nhiễm trùng đường tiết niệu.
Hơn thế nữa, Cà chua còn hỗ trợ hệ tiêu hóa - tuần hoàn - tiết niệu - miễn dịch; làm giảm các loại cholesterol có hai trong mau; hỗ trợ cân bằng dịch nội môi giúp tất cả quá trình chuyên hóa trong cơ thê hoạt động tốt nhất. Qua đó giúp cơ thé thải loại các độc tố, làm giảm sự oxy hóa, làm chậm quá trình lão hóa mô tế bao. Trong thành phần dưỡng chat của cà chua, rất nhiều chất chống oxy hoá đã được chứng minh có khả năng phòng chống nhiều dạng ung thư khác nhau và Cà chua còn là nguồn giàu các vitamin - khoáng chất có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa. Cây cà chua yêu cầu ánh sáng tương đối cao và nhiệt độ cao đề phát triển nhanh và chất lượng tốt.
Tuy nhiên, trong quá trình trồng trọt, năng suất rất có thé bị hạn chế bởi khả năng đậu trái của cây do sâu bệnh hại tan công. Năng suất mỗi cây sẽ đạt từ 3,6 — 4,5 kg trái khi cây sinh trưởng bình thường. Những sản lượng này chỉ có thể tăng lên bằng cách giữ cho cây sống và năng suất trong thời gian dài hơn (Jones, 1980). Không đáng ngạc nhiên, năng suất cao nhất khi kéo dai được thời gian sản xuất, thu hoạch bat đầu vào tháng 4 và tiếp tục đến cuối tháng 10.
Năng suất cao nhất được nhìn thấy ở những vùng khí hậu khô với đất màu mỡ và nước tưới dồi dào, dịch hại được quản lý hợp ly (Stevens, 1986).3 Tình hình sản xuất trong và ngoài nước Cà chua ngày càng phô biến và nhanh chóng được mở rộng quy mô trồng trot trong nửa thế kỷ qua. Ngày nay nó được tiêu thụ nhiều hơn ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Sản lượng cà chua đã tăng 164% trong 40 năm trên toàn thế giới và tiêu thụ cà chua trên thế giới đã tăng 314% (FAO, 2008). Lượng tiêu thụ trên thế giới tăng với tốc độ trung bình 3% hàng năm (Xinhua, 2007).
Trên thực tế, sản lượng cà chua trên thế giới là khoảng 123,6 triệu tan quả tươi được sản xuất trên 4,5 triệu ha. Bản dữ liệu này được tham chiếu đến 166 quéc gia (FAO, 2008). Trung Quốc là nước chủ yếu về cả diện tích canh tác (1.103 ha) và sản lượng (32,5 tan) với năng suất trung bình là 23. Hai quốc gia dẫn đầu về năng suất quả trên một ha là Hà Lan (472.779 kg/ha) và Anh (418.631 kg/ha), với diện tích thu hoạch lần lượt là 1.396 ha và 190 ha (FAO, 2008).
Trong thập kỷ qua, sản lượng cà chua đề chế biến đã tăng nhanh chóng từ 25 lên 36 triệu tấn (Colvine, 2008). Theo Vụ Nông nghiệp - Tổng cục Thống kê từ 1997 - 2009, diện tích trồng cà chua của Việt Nam có sự gia tăng liên tục từ 7.540 ha, ước chừng 40% diện tích ở phía Nam với diện tích khoảng 9.000 ha, trong đó Lâm Đồng có diện tích lớn nhất khoảng 7. Trong tương lai diện tích trồng cà chua sẽ có xu hướng tiếp tục tăng. Diện tích trồng cà chua ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ (Hà Nội, Hà Bắc, Hải Phòng,.) và ở miền Nam, tập trung chủ yếu ở Lâm Đồng (Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà), Tiền Giang, Long An, Cần Thơ, Tây Ninh,.
năng suất đạt 25 - 40 tan/ha, bình quân 2 kg/người/năm. Theo Chi cục trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng (2017), diện tích sản xuất cà chua năm 2017 của tỉnh ước đạt 6.525 ha, năng suất khoảng 47,98 tan/ha và sản lượng đạt 310.2 Bệnh sương mai trên cà chua do Phytophthora infestans 1.1 Phân bố và tác hại Theo Cabi (2022) hau hết các địa điểm ở Châu A, Đông Nam A va Uc, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Âu đều có thể bị bệnh sương mai, bệnh lây lan do củ giống khoai tây được nhập từ khu vực có bệnh sương mai dai dang va củ giống phân bố khắp nơi trên thế giới, do đó sự xuất hiện của P. infestans đôi khi liên quan chặt chẽ đến sự phân bố của củ giống khoai tây hơn là quần thể mầm bệnh bản địa. Bất kỳ nơi nào nhận củ giống từ khu vực có bệnh sương mai cũng có khả năng bị bệnh sau đó lây lan cho các cây ký chủ khác.
Bệnh sương mai (late blight) gây hai boi Phytophthora infestans bệnh được ghi nhận đầu tiên do Payen (Pháp, 1847) là một trong những bệnh gây hai ở hau hết các vùng cà chua trên toàn thế giới. Bệnh gây hại nghiêm trọng và có ảnh hưởng lớn tới năng suất (giảm 60 - 70%) và phẩm chất trên cà chua ở một số vùng Hà Nội, Hải Phòng, Lào Cai, Đà Lạt. Bệnh nặng trong mùa mưa ở các vùng cao có khí hậu ôn hòa: Mộc Châu - Sơn La, Sapa - Lào Cai, Đà Lat - Lâm Đồng (Nguyễn Văn Viên, 1998). Trong vụ đông xuân 2008 - 2009 có nhiều đợt lạnh theo sau đó là những ngày mưa phùn hoặc 4m độ bão hoà khá thích hợp cho sự phát triển của nắm sương mai nên bệnh đã xuất hiện các vùng trồng rau thuộc tinh Lâm Đồng bệnh xuất hiện quanh năm tỉ lệ hại cao phát triển nhanh.
Vào tháng 7 năm 2009 tại 2 huyện Đơn Dương và Đức Trọng diện tích nhiễm bệnh đã lên tới 1620 ha trong đó 50 ha nhiễm nặng, trong 1 tuần diện tích nhiễm bệnh đã tăng thêm 100 ha (Trung tâm khuyến nông khuyến ngư Việt Nam, 2009).2 Triệu chứng Theo tài liệu của Vũ Triệu Mân (2007) cho biết: Bệnh sương mai có nguồn gốc phát sinh đầu tiên ở Nam Mỹ, sau đó ở Châu Âu vào năm 1830 và trở thành nạn dịch nghiêm trọng ở Tây Au trong những năm 1845 - 1848. Ở Việt Nam, bệnh sương mai gây hại phô biến ở các vùng trồng khoai tây, cà chua và ớt và gây tác hại lớn nhất so với các loại nam hại khác trên các cây trồng trên. Triệu chứng trên lá: Bệnh thường xuất hiện đầu tiên ở mép chóp lá tạo vết xám xanh nhạt sau đó lan rộng vào phiên lá. Phân giữa vêt bệnh chuyên màu nâu đen và xung 5 quanh vết bệnh thường có lớp cành bào tử màu trắng xốp bao phủ như một lớp mốc trắng như muối làm cho lá chết lụi nhanh chóng.
Ở mặt dưới lá, vết bệnh có một lớp mốc trắng như sương (phân sinh bào tử). Bệnh nhẹ lá hơi bị cháy, bệnh nặng có thể làm toàn bộ phiến lá bị cháy khô. Triệu chứng trên thân cành: Bị bệnh từng đoạn dài, vỏ và ruột thân lúc đầu màu nâu hoặc thâm đen, sau đó thối ướt màu nâu đen. Chỗ bị bệnh nhỏ tóp lại có khi chỉ một phía thân bị thối.
Khi 4m ướt, trên vết bệnh có lớp nam trắng như sương muối bao phủ. Phía trên chỗ bị bệnh, lá héo dần. Cành, thân bị bệnh dễ bị gãy gục làm tán cây xơ xác. Triệu chứng trên quả: Bệnh thường xuât hiện ở mặt trên của quả, trên quả có những dom màu xanh xám, có vẻ ướt, vết bệnh lớn dân, chuyên sang mau trang đục sau đó chuyên sang màu nâu, hơi lõm, quả nhăn nheo, có viên rõ và bên trong có thê bị thôi.
Bệnh nhẹ quả hơi nám và cứng, bệnh nặng quả không phát triển được, sau đó bị rụng.1 Các triệu chứng của bệnh sương mai ca chua A, B, D. Triệu chứng ban đầu bệnh sương mai trên lá C. Triệu chứng bệnh trên qua 1.3 Tống quan về Phytophthora infestans 1.1 Đặc điểm và phân loài khoa học Nam gây bệnh sương mai được Anton de Bary xác định là Phytophthora infestans một loài Oomycetes. Nam sinh sản vô tính thông qua túi bào tử có hình elip đến hình quả chanh với một cuống nhỏ.
Túi bào tử có kích thước 29 - 36 x 19 -22 um. Bao tử nảy mam hoặc trực tiếp tạo thành ống mam (ở nhiệt độ 15 - 24°C), hoặc gián tiếp qua động bào tử (ở nhiệt độ dưới 18°C). Domain: Eukaryota Kingdom: Chromista Phylum: Oomycota Class: Oomycetes Order: Peronosporales Family: Peronosporaceae Genus: Phytophthora Species: Phytophthora infestans 1.2 Ký chủ và sự lây lan Mặc dù thường được coi là có phạm vi ký chủ hạn chế nhưng P. infestans đã được báo cáo là có thể gây nhiễm trên một số lượng lớn các loài.
Erwin và Ribeiro (1996) liệt kê 89 loài ký chu, hơn 25% trong số nay được đưa vao vì việc lây nhiễm nhân tạo có xuất hiện vết bệnh. Trong nông nghiệp, hai ký chủ quan trọng nhất của loài này là khoai tây và cả chua. infestans là một mầm bệnh có khả năng tàn phá ở hầu hết các vùng trồng khoai tây ( Cox và Large, 1960). Nó cũng là một mầm bệnh nghiêm trọng trên cà chua ở những nơi có khí hậu mát mẻ hơn.
Ngoài những loại cây nông nghiệp quan trọng trên toàn cầu nay, P. infestans còn tan công các loài cây họ cà hoang da ở châu Mỹ. Nó được báo cáo về một số lượng lớn các loài họ cà ở miền trung Mexico ( Rivera-Pena và Molina-Galan, 1989 ), trên cây muồng đêm (Solanum sarrachoides) ở khắp châu Mỹ, và trên dưa lê (S. muricatum) ở Andes của Nam Mỹ ( Turkensteen, 1978 ).
Một số quan thé P. infestans đã được xác định là phát triển khác nhau trên các cây ký chủ khác nhau. Ở Ecuador, tồn tại hai quần thé P. infestans cô thé duoc phan biét bằng các mau isoenzyme đối với glucose-6-phospahte isomerase ( Erselius va ctv, 2000).
Một quan thé (EC-1) chi được tim thấy trên khoai tây và quan thé khác (US-1) chỉ được tìm thấy trên cà chua. Các ưu tiên tương tự cũng được báo cáo từ các dòng phân lập được thu thập ở Pháp và Mỹ ( Legard và ctv, 1995 ; Lebreton va ctv, 1999 ).