Đặt vấn đề nghiên cứu vào bối cảnh chung của tri thức đã có để tìm ra những điểm có thể kế thừa, bổ sung hay những đóng góp mới cho vấn đề nghiên cứu. Tuy nhiên, phương pháp này cần được cân nhắc để tìm tài liệu phù hợp với vấn đề nghiên cứu, có ý nghĩa bổ trợ.2 Phương pháp phân tích nội dung Tác giả sử dụng phương pháp phân tích nội dung trên chương trình truyền hình công thương phát sóng thường kỳ 1 số/tuần vào khung giờ 16 giờ 15 phút thứ ba trên kênh VTV1 của Đài truyền hình Việt Nam, phân tích trên tổng 53 chương trình phát sóng, thời lượng mỗi chương trình giao động từ 13 đến 15 phút, được phát sóng trong thời gian từ tháng 06 năm 2023 đến tháng 06 năm 2024, nhằm mục đích tìm hiểu về đặc điểm và nội dung thông tin xúc tiến thương mại trên chương trình này. Từ đó, lấy các dữ liệu làm luận điểm, luận cứ để rút ra những nhận xét và đánh giá của cá nhân mang tính khoa học làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 16 Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm lấy ý kiến chuyên môn và quan điểm từ các phía: lãnh đạo/đại diện doanh nghiệp, và chuyên viên Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương. Các cuộc phỏng vấn chú trọng tìm hiểu về nội dung thông tin xúc tiến thương mại được thể hiện trong các chương trình truyền hình công thương, các vấn đề tồn tại và các giải pháp nhằm cải thiện nội dung thông tin xúc tiến thương mại để nâng cao chất lượng truyền đạt thông tin.
Kết quả cuộc phỏng vấn sâu đã cung cấp những cái nhìn thực tế, góp phần hoàn chỉnh thêm nội dung của luận văn. Dữ liệu sau phỏng vấn đã được tổng hợp và phân loại nhằm làm sáng tỏ những mặt thành công và hạn chế đối với việc triển khai nội dung thông tin xúc tiến thương mại trên truyền hình. Đóng góp mới của Luận văn Luận văn hệ thống hoá và làm sáng tỏ các đặc trưng, nội dung thông tin xúc tiến thương mại trên truyền hình, thông qua việc nghiên cứu thông tin liên quan về xúc tiến thương mại trong chương trình truyền hình công thương trong khoảng thời gian một năm. Mục tiêu là xây dựng cơ sở phục vụ phân tích thông tin xúc tiến thương mại trên truyền hình.
Luận văn tìm hiểu và đánh giá hiện trạng nội dung, hình thức thông tin xúc tiến thương mại trên chương trình truyền hình công thương, qua đó đánh giá hiệu quả của truyền hình nói chung, cũng như chương trình này nói riêng đối với công tác tuyên truyền thông tin xúc tiến thương mại. Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn sẽ kiến nghị những biện pháp đẩy mạnh hiệu quả thông tin xúc tiến thương mại trong chương trình truyền hình công thương trong giai đoạn tiếp theo. Kết quả nghiên cứu cũng sẽ chứng tỏ ưu thế đặc trưng của chương trình truyền hình công thương đối với vấn đề chuyển tải thông tin xúc tiến thương mại. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Đề tài 7.
Ý nghĩa lý luận Luận văn trình bày những vấn đề lý luận trong nghiên cứu truyền thông dưới góc độ phân tích nội dung thông tin báo chí, truyền hình, góp phần làm phong phú hệ thống kiến thức lý luận thuộc chuyên ngành truyền thông đại chúng và làm tiền đề để triển khai nhiều hướng nghiên cứu mới về truyền thông và thông tin xúc tiến thương mại trong tương lai. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu đã đưa ra những thành công, hạn chế và tác động của chương trình đối với việc truyền tải nội dung thông tin xúc tiến thương mại trên chương trình truyền hình công thương, qua đó kiến nghị các biện pháp củng cố và cải tiến chương trình để nâng cao chất lượng chuyển tải thông tin với khán giả. Luận văn, một khi hoàn thiện, sẽ trở thành tư liệu tham khảo đáp ứng nhu cầu cho mọi người trong việc tìm hiểu thông tin xúc tiến thương mại trên truyền hình, hay cụ thể là quan tâm tìm hiểu về chương trình truyền hình công thương. Kết cấu của Luận văn Ngoài nội dung mở đầu, kết thúc và các tư liệu tham khảo, Luận văn có cấu trúc 03 phần: Chương I: Lý luận chung về thông tin xúc tiến thương mại trên truyền hình Chương II: Hoạt động thông tin xúc tiến thương mại trên chương trình truyền hình công thương 18 Chương III: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp thúc đẩy thông tin xúc tiến thương mại trên chương trình truyền hình công thương 19 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÔNG TIN XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI TRÊN TRUYỀN HÌNH 1.
Một số khái niệm liên quan 1. Thông tin Xuất phát từ tiếng Latin “Informatio”, tiền thân của từ “information” trong nhiều ngôn ngữ hiện đại, khái niệm thông tin ban đầu mang hai tầng nghĩa. Một mặt, nó ám chỉ hành động cụ thể của việc tạo ra một hình thức, một cấu trúc, hay một dạng thức vật lý (tương ứng với từ “forme”). Mặt khác, nó cũng được sử dụng để mô tả quá trình trao đổi, truyền tải những nội dung trừu tượng như ý tưởng, khái niệm hoặc biểu tượng.
Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của xã hội, đặc biệt là trong kỷ nguyên số, khái niệm thông tin đã không còn giới hạn trong hai ý nghĩa ban đầu này. Nó đã trở nên đa dạng và phong phú hơn, bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, từ dữ liệu, tri thức đến truyền thông và tương tác. Trong cuốn “Bùng nổ thông tin”, hai tác giả Philippe Breton và Serge Proulx đã chỉ ra rằng khái niệm “thông tin” mang đậm dấu ấn La Mã, cho thấy mong muốn truyền đạt tri thức. Khái niệm này được thể hiện qua hai hướng nghĩa.
Hướng thứ nhất tập trung vào hành động tạo ra một hình dạng vật lý (“forme”), trong khi hướng thứ hai nhấn mạnh vào việc truyền đạt các nội dung trừu tượng như ý tưởng, khái niệm hoặc biểu tượng. Sự tồn tại đồng thời của hai hướng nghĩa này cho thấy mục đích kép của thông tin: vừa tạo ra những hình thức cụ thể, vừa xây dựng và lan tỏa tri thức, thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa kỹ thuật và tri thức [27, tr. Trong lý luận báo chí, khái niệm “thông tin” cũng mang tính đa nghĩa, thể hiện qua hai cách tiếp cận chính. Một mặt, thông tin được hiểu là kết quả của quá trình lao động sáng tạo của nhà báo, là sự phản ánh và diễn giải hiện 20 thực khách quan thành những tri thức và tư tưởng cụ thể.
Cách tiếp cận này đặt thông tin vào vị trí trung tâm của hoạt động báo chí, tương tự như vai trò của hình tượng trong nghệ thuật hay hàng hóa trong kinh tế chính trị. Mặt khác, thông tin còn được hiểu là quá trình truyền tải những kết quả sáng tạo của nhà báo đến công chúng thông qua các phương tiện kỹ thuật. Cách tiếp cận này nhấn mạnh vào chức năng truyền thông, sử dụng các phương tiện kỹ thuật để phổ biến những sản phẩm lao động sáng tạo của nhà báo. Như vậy, hai cách hiểu này bổ sung cho nhau, tạo nên một cái nhìn toàn diện về vai trò của thông tin trong hoạt động báo chí [27, tr.
Xét trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tập trung vào cách hiểu “thông tin” như là một quá trình tương tác giữa nhà báo và công chúng. Theo đó, thông tin không chỉ là nội dung được truyền tải mà còn là toàn bộ hoạt động của nhà báo nhằm chuyển tải những sản phẩm báo chí (kết quả của quá trình sáng tạo) đến công chúng thông qua các phương tiện kỹ thuật. Mục đích cuối cùng của quá trình này là tạo ra những tác động nhất định đến nhận thức, tư tưởng và hành vi của công chúng, hướng đến những thay đổi tích cực hoặc đạt được những hiệu quả cụ thể đối với từng nhóm đối tượng. Trong thực tiễn báo chí, thông tin đóng vai trò như một “nhân tố trung gian”, kết nối nhà báo với công chúng.
Nó vừa là “nguồn lực” mà nhà báo sử dụng để thực hiện nhiệm vụ của mình, vừa là “nhu cầu” thiết yếu mà công chúng tìm kiếm. Xúc tiến thương mại và thông tin xúc tiến thương mại Một số học giả trên thế giới đã đề xuất một số khái niệm về xúc tiến thương mại. Có thể kể đến như: Joseph Cannon và William định nghĩa “xúc tiến thương mại là việc truyền tin giữa người bán và người mua hay khách 21 hàng tiềm năng cụ thể nhằm tác động đến nhận thức, hành vi và quan điểm mua sản phẩm” [28, tr. Goodwin, “xúc tiến thương mại là hoạt động thông tin marketing đặc biệt và có chủ đích để định hướng vào việc chào hàng, xây dựng mối liên hệ thuận lợi giữa doanh nghiệp và khách hàng” (Trong thương mại, thông tin marketing được hiểu là việc trao truyền, đưa đến, chuyển giao những thông điệp cần thiết về sản phẩm, phương thức phục vụ và lợi ích khách hàng thu được sau khi mua sản phẩm của doanh nghiệp) [8, tr.
Tại Đề án “Đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại ở nước ta thời kỳ đến 2010” của Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, xúc tiến thương mại được hiểu là hoạt động trao đổi và hỗ trợ trao đổi thông tin giữa bên bán hàng và bên mua hàng hoặc thông qua khâu trung gian để can thiệp vào quy trình mua, bán, và qua đó đẩy mạnh hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá. Các cách hiểu trên nhìn nhận xúc tiến thương mại như một phần của marketing, tập trung vào việc thúc đẩy trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các bên liên quan. Cách tiếp cận này thường dựa trên các chỉ số định lượng như số lượng doanh nghiệp tham gia khảo sát thị trường, hội chợ trong và ngoài nước, hoặc số lượng giao dịch thành công. Tuy nhiên, việc chỉ dựa vào các chỉ số này có thể bỏ qua những lợi ích thực sự mà xúc tiến thương mại mang lại, cũng như hiệu quả phân bổ nguồn lực nhà nước cho các hoạt động thương mại của doanh nghiệp.
Dưới khía cạnh thương mại, theo định nghĩa ghi tại khoản 10 điều 3, mục 1 tại Luật thương mại số 36/2005/QH11 năm 2005: “Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua, bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại; quảng cáo thương mại; trưng bày, 22 giới thiệu hàng hoá; dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại”.