Tổng quan luận án

Hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) là phương thức quan trọng để thương nhân liên hệ với thị trường và công chúng thông qua các kỹ thuật thuyết phục nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, XTTM đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho thương nhân, đồng thời tác động trực tiếp đến môi trường cạnh tranh và quyền lợi của người tiêu dùng. Pháp luật về XTTM giữ vai trò là công cụ pháp lý ghi nhận quyền tự do thương mại của thương nhân, đồng thời thiết lập hành lang kiểm soát nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đối với xã hội.

Tại Việt Nam, quá trình hoàn thiện khung pháp lý về XTTM đã trải qua các giai đoạn từ các văn bản dưới luật năm 1994, 1995 đến Luật Thương mại năm 1997, Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP. Hoạt động này đồng thời chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Luật Cạnh tranh năm 2004 và Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy hệ thống văn bản còn bộc lộ sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa pháp luật thương mại và pháp luật cạnh tranh, thiếu vắng các quy phạm điều chỉnh các dịch vụ mới và thiếu cơ chế kiểm soát tính trung thực của thương nhân. Về mặt lý luận, pháp luật về XTTM chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống trong khoa học pháp lý Việt Nam.

Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật về xúc tiến thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Dung thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2006), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Hồng Hạnh, nhằm giải quyết khoảng trống lý luận và thực tiễn này.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về XTTM, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động này.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 5 nội dung:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận về XTTM dưới cả hai góc độ kinh tế và pháp lý nhằm xác định chính xác đối tượng điều chỉnh của pháp luật về XTTM;
  2. Nghiên cứu khái niệm, nội dung của pháp luật về XTTM và các yếu tố tác động đến sự hình thành, phát triển của các quy định pháp luật;
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về XTTM; khảo sát các quy định pháp luật của một số quốc gia nhằm rút ra kinh nghiệm tham khảo;
  4. Chỉ rõ các ưu điểm và hạn chế của hệ thống pháp luật thực định về XTTM tại Việt Nam;
  5. Xác định các định hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về XTTM.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại hình thành trong quá trình thương nhân tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua các biện pháp thông tin, tiếp thị hoặc dành lợi ích cho khách hàng.

Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào pháp luật điều chỉnh hoạt động XTTM do thương nhân tiến hành trên lãnh thổ Việt Nam trong nền kinh tế thị trường, có sự liên hệ so sánh với các cam kết quốc tế và pháp luật của một số quốc gia. Các hoạt động XTTM vĩ mô do Nhà nước tiến hành hoặc hoạt động xúc tiến đầu tư độc lập chỉ được khảo sát ở mức độ liên quan để làm sáng tỏ cơ sở lý luận.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong luận án chỉ ra rằng hoạt động XTTM đã được tiếp cận ở cả hai góc độ kinh tế học và khoa học pháp lý:

Các nghiên cứu ở góc độ kinh tế

Ở phương diện kinh tế, các công trình tập trung nghiên cứu biện pháp, cách thức XTTM của doanh nghiệp và vai trò hỗ trợ của Chính phủ cùng các tổ chức xúc tiến thương mại (TPOs):

  • Công trình "Áp dụng kinh nghiệm xúc tiến thương mại của Nhật Bản trong hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam" của TS Phạm Quang Thao (Nxb Thanh niên, 1997) phân tích các dịch vụ hỗ trợ gián tiếp và trực tiếp cho hoạt động mua bán.
  • Các ấn phẩm "Kinh nghiệm tổ chức và quản lý cơ quan xúc tiến thương mại của các nước" (1999) và "Tổ chức xúc tiến thương mại và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường" (1999) do Viện Nghiên cứu thương mại biên soạn dựa trên tài liệu của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC).
  • Đề tài "Xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ" do Viện Nghiên cứu thương mại phối hợp với Ban Nghiên cứu thị trường và Viện Tư vấn phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi (CISDOMA) xuất bản năm 2003.
  • Sách tham khảo "Xúc tiến thương mại" của TS Mia Mikic (Ủy ban kinh tế - xã hội Liên hợp quốc khu vực Châu Á Thái Bình Dương) do Viện Nghiên cứu thương mại biên dịch năm 2003, tiếp cận XTTM gắn liền với xu thế tự do hóa thương mại quốc tế.
  • Luận án tiến sĩ kinh tế "Xúc tiến bán hàng trong kinh doanh thương mại ở Việt Nam" (2001) của Nguyễn Thị Xuân Hương và cuốn sách "Xúc tiến thương mại - Lý thuyết và thực hành" (Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 2003) của TS Đỗ Thị Loan, nghiên cứu sâu nghiệp vụ kinh doanh và kỹ năng xúc tiến bán hàng.
  • Tham luận "Vai trò của quảng cáo trong khuôn khổ hoạt động xúc tiến thương mại tại Việt Nam" của Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Thương mại) tại Kỷ yếu hội thảo do Bộ Văn hóa - Thông tin tổ chức tháng 3/2005.

Các nghiên cứu ở góc độ pháp lý

Trước thời điểm luận án được công bố, các công trình pháp lý về XTTM còn rất hạn chế:

  • Luận văn thạc sĩ luật học "Các hình thức pháp lý để xúc tiến thương mại" (1997) của Bùi Thị Keng nghiên cứu các quy định ban đầu của Luật Thương mại năm 1997, chưa bao quát vấn đề kinh doanh dịch vụ XTTM, pháp luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng.
  • Giáo trình và tài liệu giảng dạy đại học của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Luật Hà Nội chỉ đề cập khái quát, chưa đi sâu vào bản chất pháp lý và hệ thống giải pháp lập pháp.

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu vắng một công trình cấp tiến sĩ nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn đối với toàn bộ chế định pháp luật về XTTM tại Việt Nam. Luận án đặt vị trí nghiên cứu là công trình đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam xây dựng khái niệm pháp lý về XTTM và pháp luật về XTTM theo nghĩa hẹp, phân tích đồng bộ các hình thức XTTM, dịch vụ XTTM và mối quan hệ tương tác với pháp luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại.

Khung phân tích lý thuyết của luận án kết hợp giữa lý luận kinh tế học marketing (các lý thuyết của Philip Kotler, Jerome McCarthy, William D. Perreault, Đỗ Thị Loan) và lý luận pháp luật kinh tế:

  • Tiếp cận quyền hoạt động XTTM dưới hai góc độ: nghĩa chủ quan (quyền tự do kinh doanh có giới hạn của thương nhân) và nghĩa khách quan (tổng thể quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại);
  • Phân định phạm vi điều chỉnh giữa pháp luật về XTTM theo nghĩa rộng (bao gồm cả quan hệ quản lý nhà nước, quan hệ ngoại giao thương mại quốc tế) và nghĩa hẹp (bộ phận của pháp luật thương mại điều chỉnh hành vi của thương nhân);
  • Khung điều chỉnh quốc tế từ các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) gồm GATT 1994, GATS, TRIMs (Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại) và TRIPs (Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý định tính, sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm khoa học, các yếu tố cấu thành hành vi XTTM, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, từ đó tổng hợp thành các luận điểm khoa học pháp lý.
  • Phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn: Đối chiếu các quy phạm pháp luật thực định với thực tế diễn biến các hành vi khuyến mại, quảng cáo, hội chợ triển lãm và dịch vụ XTTM trên thị trường Việt Nam.
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu, so sánh các quy định pháp luật thương mại Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia và chuẩn mực quốc tế của WTO nhằm rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp thống kê: Tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử và các số liệu phát triển thương mại liên quan.

Nguồn dữ liệu và tư liệu

Tư liệu nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2006 (tiêu biểu như Thông tư 04/BYT-TT năm 1991, Quyết định số 390-TTg năm 1994, Nghị định số 194-CP năm 1994, Luật Thương mại năm 1997, Nghị định số 32/1999/NĐ-CP, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Luật Cạnh tranh năm 2004, Nghị định số 175/2004/NĐ-CP, Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP);
  • Các văn kiện pháp lý quốc tế của WTO, các hiệp định thương mại song phương (như Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ BTA);
  • Báo cáo chuyên đề và số liệu của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), Bộ Thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Viện Nghiên cứu thương mại và các tài liệu hội thảo chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

CẤU TRÚC LUẬN ÁN

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xúc tiến thương mại và pháp luật về xúc tiến thương mại

Chương 1 tập trung phân tích bản chất kinh tế và pháp lý của hoạt động XTTM và xác lập cơ sở lý thuyết cho chế định pháp luật về XTTM.

1. Khái niệm xúc tiến thương mại ở góc độ kinh tế và pháp lý

  • Ở góc độ kinh tế: Thuật ngữ XTTM (Promotion / Trade Promotion) xuất hiện gắn liền với khoa học marketing đầu thế kỷ 20. XTTM được hiểu là toàn bộ các hoạt động liên hệ với thị trường do thương nhân, Chính phủ và các TPOs thực hiện nhằm thúc đẩy phát triển thương mại. Luận án phân loại XTTM theo chủ thể thực hiện (thương nhân vs Nhà nước/TPOs), theo không gian (nội bộ đơn vị kinh doanh như quản trị quan hệ khách hàng CRM vs liên hệ thị trường), theo đối tượng (hàng hóa vs dịch vụ). Luận án cũng luận giải bản chất của XTTM trong lĩnh vực đầu tư (gắn với TRIMs) và sở hữu trí tuệ (gắn với TRIPs), khẳng định các hoạt động này suy cho cùng đều mang bản chất của xúc tiến thương mại hàng hóa và dịch vụ.
  • Ở góc độ pháp lý: Quyền hoạt động XTTM là một bộ phận của quyền tự do kinh doanh. Theo nghĩa chủ quan, đây là khả năng xử sự của chủ thể nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội giao kết hợp đồng, nhưng bị giới hạn bởi trật tự công cộng và quyền lợi của người khác. Theo nghĩa khách quan, đó là hệ thống quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các hành vi này.
  • Đặc điểm pháp lý của XTTM theo Luật Thương mại năm 2005:
    • Về bản chất: Là hành vi thương mại mang tính chất hỗ trợ, không trực tiếp sinh lợi nhuận ngay tại thời điểm thực hiện mà gián tiếp tạo ra cơ hội sinh lời thông qua việc kích thích nhu cầu mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ;
    • Về chủ thể: Chủ yếu do thương nhân thực hiện, bên cạnh sự tham gia của các tổ chức, cá nhân khác hoạt động liên quan đến thương mại (như cơ quan báo chí phát hành quảng cáo);
    • Về mục đích: Tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ (không bao gồm mục đích đầu tư trực tiếp trong luật thực định);
    • Về hình thức: Bao gồm khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại.
Tiêu chí Tiếp cận ở góc độ kinh tế Tiếp cận ở góc độ pháp lý (theo Luật Thương mại 2005)
Chủ thể thực hiện Thương nhân, Chính phủ, các tổ chức xúc tiến thương mại (TPOs) Thương nhân và tổ chức, cá nhân hoạt động liên quan đến thương mại
Mục đích Thúc đẩy mọi cơ hội phát triển thương mại, xúc tiến xuất khẩu, đầu tư Tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ
Hình thức biểu hiện Rất đa dạng: CRM, PR, quảng cáo, hội thảo ngoại giao, nghiên cứu thị trường... Các hình thức pháp lý luật định: Khuyến mại, quảng cáo, trưng bày giới thiệu, hội chợ triển lãm
Bản chất hoạt động Nghiệp vụ tiếp thị, kích thích thị trường và phát triển kinh doanh Quyền tự do kinh doanh có giới hạn, hành vi thương mại không trực tiếp sinh lời

2. Chủ thể tham gia và có liên quan đến hoạt động XTTM

Luận án phân tích hệ thống chủ thể gồm:

  • Thương nhân: Gồm thương nhân hoạt động XTTM cho chính mình và thương nhân kinh doanh dịch vụ XTTM; thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài. Phân tích rõ vị trí pháp lý của chi nhánh (hoạt động theo ủy quyền kinh doanh thường xuyên) và văn phòng đại diện (không được trực tiếp thiết lập quan hệ thương mại trừ khi có ủy quyền vụ việc). Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh cũng có quyền XTTM nhưng bị giới hạn ở các hình thức phức tạp (theo Nghị định số 37/2006/NĐ-CP).
  • Chính phủ: Thực hiện chức năng quản lý nhà nước và tổ chức các hoạt động xúc tiến vĩ mô (ký kết hiệp định thương mại, cơ quan đại diện ở nước ngoài).
  • Các tổ chức xúc tiến thương mại (TPOs): Đại diện là Cục Xúc tiến thương mại (thành lập năm 2000), cung cấp dịch vụ thông tin, hội chợ, đào tạo.
  • Đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng và chủ phương tiện thông tin: Các bên có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp, đặt ra yêu cầu pháp luật phải bảo vệ trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và gian lận thương mại.

3. Khái niệm và nội dung của pháp luật về XTTM

Luận án phân biệt:

  • Nghĩa rộng: Chế định pháp luật gồm toàn bộ các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật (thương mại, dân sự, hành chính, hình sự, quốc tế) điều chỉnh quan hệ thương mại và quản lý nhà nước về XTTM.
  • Nghĩa hẹp: Một bộ phận của pháp luật thương mại, là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại hình thành trong quá trình thương nhân tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Nội dung gồm 3 nhóm quy định: (i) Quy định về các hình thức XTTM; (ii) Quy định về kinh doanh dịch vụ XTTM; (iii) Quy định về XTTM liên quan đến cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

4. Tiến trình phát triển pháp luật XTTM tại Việt Nam

Luận án điểm lại lịch sử từ thời kỳ kế hoạch hóa tập trung (không có cạnh tranh, không có nhu cầu XTTM) đến nền kinh tế thị trường:

  • Thuật ngữ xuất hiện lần đầu trong Thông tư số 04/BYT-TT ngày 12/2/1991;
  • Các văn bản dưới luật năm 1994 (Quyết định số 390-TTg, Nghị định số 194-CP);
  • Luật Thương mại năm 1997 lần đầu luật hóa các hành vi khuyến mại, quảng cáo, hội chợ triển lãm;
  • Bước chuyển sang Luật Thương mại năm 2005, Luật Cạnh tranh năm 2004, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 và Nghị định số 37/2006/NĐ-CP, mở rộng quyền tự do thương mại cho mọi chủ thể kinh doanh.

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về xúc tiến thương mại

Chương 2 đi sâu phân tích thực trạng các văn bản pháp luật thực định và đánh giá những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thi hành:

1. Pháp luật về các hình thức xúc tiến thương mại

  • Khuyến mại: Đánh giá các quy định về hình thức khuyến mại (giảm giá, tặng quà, bán hàng có thưởng, phiếu dự thi, khách hàng thường xuyên...), hạn mức giá trị vật chất dùng để khuyến mại, thủ tục đăng ký và thông báo. Phân tích các bất cập về giới hạn tỷ lệ giảm giá tối đa và hạn chế quyền linh hoạt của doanh nghiệp.
  • Quảng cáo thương mại: Phân tích sự giao thoa và mâu thuẫn giữa Luật Thương mại năm 2005 và Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001. Chỉ rõ việc coi quảng cáo thuần túy là hoạt động văn hóa - thông tin đã tạo ra cơ chế quản lý hành chính nặng nề, nhiều tầng nấc cấp phép gây khó khăn cho thương nhân.
  • Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và Hội chợ, triển lãm thương mại: Đánh giá các quy định về điều kiện tổ chức, thủ tục đăng ký, quyền trưng bày hàng mẫu của thương nhân trong nước và thương nhân nước ngoài.

2. Pháp luật về kinh doanh dịch vụ xúc tiến thương mại

  • Đánh giá sự chuyển biến tích cực của Luật Thương mại năm 2005 khi bãi bỏ quy định bắt buộc doanh nghiệp phải kinh doanh đơn ngành đối với dịch vụ quảng cáo và hội chợ triển lãm;
  • Phân tích các quy định về hợp đồng dịch vụ XTTM, quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ;
  • Nhận diện lỗ hổng pháp lý đối với việc phân định trách nhiệm pháp lý giữa thương nhân thuê dịch vụ và thương nhân cung ứng dịch vụ khi xảy ra hành vi vi phạm pháp luật đối với người tiêu dùng hoặc đối thủ cạnh tranh.

3. Pháp luật về xúc tiến thương mại liên quan đến cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng

  • Mối quan hệ với Luật Cạnh tranh năm 2004: Phân tích các hành vi XTTM bị coi là cạnh tranh không lành mạnh như quảng cáo so sánh trực tiếp, quảng cáo bắt chước gây nhầm lẫn, quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc dèm pha đối thủ, khuyến mại nhằm bán phá giá;
  • Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Đánh giá các chế tài xử lý gian lận trong khuyến mại (hàng hóa kém chất lượng, không công khai kết quả trúng thưởng) và quảng cáo thổi phồng công dụng sản phẩm;
  • Những bất cập chính được chỉ ra: Sự mâu thuẫn giữa các định nghĩa trong Luật Thương mại và Luật Cạnh tranh; thiếu chế tài xử lý kịp thời đối với các chủ thể liên quan (chủ phương tiện quảng cáo, người phát hành sản phẩm quảng cáo); chế tài xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định số 175/2004/NĐ-CP) còn lạc hậu, mức phạt chưa đủ sức răn đe.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về xúc tiến thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Chương 3 xây dựng hệ thống quan điểm và đề xuất các giải pháp lập pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật về XTTM.

1. Căn cứ và định hướng hoàn thiện

  • Căn cứ hoàn thiện: Xuất phát từ yêu cầu tự do hóa thương mại, yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập WTO (thực thi các cam kết GATT, GATS, TRIMs, TRIPs), và khắc phục những bất cập thực tiễn của hệ thống pháp luật hiện hành.
  • Định hướng chủ yếu:
    • Bảo đảm và mở rộng quyền tự do hoạt động XTTM của thương nhân, tôn trọng nguyên tắc thương nhân được làm những gì pháp luật không cấm;
    • Tiếp cận phương pháp điều chỉnh theo hướng loại trừ: chỉ quy định danh mục các hành vi bị cấm và bị hạn chế để bảo vệ trật tự công cộng, tránh can thiệp hành chính sâu vào quyền tự chủ kinh doanh;
    • Bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Pháp luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các luật chuyên ngành;
    • Đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuyển mạnh từ tiền kiểm (xin phép, phê duyệt) sang hậu kiểm (thông báo, tự chịu trách nhiệm và thanh tra, kiểm tra).

2. Các giải pháp cụ thể

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể:

  • Hoàn thiện Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn:
    • Bãi bỏ các rào cản hành chính không cần thiết đối với hoạt động khuyến mại và hội chợ triển lãm;
    • Bổ sung quy định điều chỉnh các dịch vụ XTTM mới phát sinh;
    • Làm rõ trách nhiệm liên đới giữa bên thuê và bên nhận cung ứng dịch vụ XTTM;
  • Xử lý mâu thuẫn giữa Luật Thương mại, Pháp lệnh Quảng cáo và Luật Cạnh tranh:
    • Cần sớm xây dựng Luật Quảng cáo thay thế cho Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, nhìn nhận quảng cáo thương mại đúng với bản chất là một hoạt động thương mại sinh lợi;
    • Thống nhất các tiêu chí xác định hành vi quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh giữa cơ quan quản lý thương mại và cơ quan quản lý cạnh tranh;
  • Nâng cao hiệu lực bảo vệ người tiêu dùng và xử lý vi phạm:
    • Sửa đổi, thay thế Nghị định số 175/2004/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại theo hướng tăng mức phạt tiền, bổ sung các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả;
    • Thiết lập cơ chế kiểm soát tính trung thực của thông tin quảng cáo, bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng;
  • Định hướng nghiên cứu và điều chỉnh các hình thức XTTM phi truyền thống:
    • Đề xuất nghiên cứu khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động Quan hệ công chúng (PR) và quản trị quan hệ khách hàng (CRM) khi các hoạt động này tác động đến thị trường.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được những đóng góp khoa học mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:

1. Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Xây dựng thành công khái niệm khoa học pháp lý về "Xúc tiến thương mại" và "Pháp luật về xúc tiến thương mại" (theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp), làm rõ bản chất pháp lý của XTTM là hành vi thương mại mang tính hỗ trợ, không trực tiếp sinh lời;
  • Xác định hệ thống cấu trúc nội dung của pháp luật về XTTM gồm 3 bộ phận cốt lõi: pháp luật về các hình thức XTTM, pháp luật về kinh doanh dịch vụ XTTM, và pháp luật về XTTM liên quan đến cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
  • Khẳng định pháp luật về XTTM là một bộ phận hữu cơ của pháp luật thương mại, xác lập luận cứ khoa học cho quyền tự do hoạt động XTTM của thương nhân trong nền kinh tế thị trường.

2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp

  • Phân tích và chỉ rõ các điểm xung đột, mâu thuẫn giữa Luật Thương mại năm 2005 với Luật Cạnh tranh năm 2004 và Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001;
  • Chỉ ra các quy định còn mang tính hành chính, can thiệp quá sâu vào quyền tự do thương mại của thương nhân và những khoảng trống đối với việc kiểm soát tính trung thực của thương nhân;
  • Đề xuất phương án cụ thể sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật Thương mại, định hướng xây dựng Luật Quảng cáo mới, sửa đổi khung xử phạt vi phạm hành chính, và bãi bỏ các văn bản không còn phù hợp để phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở các quan hệ thương mại do thương nhân tiến hành dưới góc độ luật kinh tế. Do đó, các khía cạnh pháp lý về quản lý nhà nước vĩ mô, các hoạt động XTTM cấp quốc gia thông qua ngoại giao thương mại và xúc tiến đầu tư độc lập chưa được phân tích sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án kiến nghị tiếp tục nghiên cứu lý luận và thực tiễn để hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các hình thức XTTM hiện đại mới phát sinh trong kinh tế thị trường như hoạt động Quan hệ công chúng (PR), xúc tiến thương mại điện tử và quản trị dữ liệu khách hàng (CRM).

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Nhà lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thương mại, luật quảng cáo, luật cạnh tranh và văn bản hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Luật Kinh tế: Là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên ở bậc tiến sĩ về chế định pháp luật XTTM tại Việt Nam; cung cấp hệ thống khái niệm, lược sử lập pháp và phương pháp luận phân tích quyền tự do kinh doanh.
  • Thương nhân và các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ XTTM: Giúp nhận diện rõ ràng ranh giới pháp lý, quyền và nghĩa vụ khi thực hiện các chương trình khuyến mại, quảng cáo, hội chợ triển lãm, qua đó phòng ngừa rủi ro tranh chấp và tránh vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "Pháp luật về xúc tiến thương mại" theo nghĩa hẹp như thế nào?

Theo nghĩa hẹp, pháp luật về XTTM được xác định là một bộ phận của pháp luật thương mại, là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại hình thành trong quá trình thương nhân tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua các biện pháp thông tin, tiếp thị hoặc dành lợi ích cho khách hàng để tác động tới thái độ và hành vi mua sắm của họ.

2. Sự khác biệt căn bản giữa bản chất của "bán hàng" và "xúc tiến bán hàng" theo luận án là gì?

"Bán hàng" là quan hệ trao đổi trực tiếp chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa để thu lợi nhuận trực tiếp. Trong khi đó, "xúc tiến bán hàng" (hay XTTM nói chung) là hành vi thương mại mang tính chất hỗ trợ, không phải là quan hệ trao đổi mua bán trực tiếp sinh lời ngay, mà có tác dụng tạo ra và thúc đẩy cơ hội giao kết hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ nhằm thỏa mãn mục tiêu lợi nhuận của thương nhân.

3. Những hình thức xúc tiến thương mại nào được Luật Thương mại năm 2005 ghi nhận chính thức?

Luật Thương mại năm 2005 ghi nhận 4 hình thức XTTM chính thức bao gồm:

  1. Khuyến mại;
  2. Quảng cáo thương mại;
  3. Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ;
  4. Hội chợ, triển lãm thương mại.

4. Luận án chỉ ra những bất cập pháp lý chủ yếu nào giữa Luật Thương mại, Pháp lệnh Quảng cáo và Luật Cạnh tranh?

Luận án chỉ ra:

  • Quảng cáo thương mại chịu sự quản lý phân tán, chưa thực sự được nhìn nhận thuần túy là hành vi thương mại mà bị điều chỉnh nặng nề bởi thủ tục hành chính văn hóa - thông tin theo Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001;
  • Có sự thiếu thống nhất, trùng lặp giữa Luật Thương mại năm 2005 và Luật Cạnh tranh năm 2004 trong việc xác định các hành vi quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
  • Thiếu cơ chế kiểm soát tính trung thực của thông tin XTTM và quy định xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 175/2004/NĐ-CP đã lạc hậu, thiếu chế tài xử lý đối với một số chủ thể liên quan như bên phát hành quảng cáo.

5. Luận án đề xuất phương pháp tiếp cận điều chỉnh pháp luật nào đối với các hình thức xúc tiến thương mại?

Luận án đề xuất áp dụng phương pháp điều chỉnh theo hướng loại trừ: Nhà nước chỉ quy định cụ thể các hành vi bị cấm đoán và hạn chế (nhằm bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, trật tự công cộng và người tiêu dùng). Ngoài các ranh giới cấm đoán này, pháp luật cần tôn trọng quyền tự do thương mại và quyền sáng tạo của thương nhân trong việc lựa chọn, kết hợp các hình thức XTTM phù hợp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Dung là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên về pháp luật xúc tiến thương mại tại Việt Nam. Tác phẩm đã phân định rõ ranh giới lý luận giữa bản chất kinh tế và bản chất pháp lý của XTTM, xác lập hệ thống cấu trúc 3 nhóm quy định cốt lõi của chế định pháp luật này. Đồng thời, luận án đã phân tích sâu sắc các bất cập của hệ thống pháp luật thực định thời kỳ 2005 - 2006 và đề xuất các giải pháp lập pháp khả thi nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.