ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) là nhiễm khuẩn xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh (NB) nhập viện và không hiện diện cũng như không có ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện (1). Báo cáo của WHO ước tính rằng bất cứ lúc nào cũng có khoảng hơn 1,4 triệu người trên toàn thế giới bị NKBV (1). NKBV gây ra nhiều hậu quả nặng nề làm tăng thời gian nằm viện, tăng nguy cơ tử vong, tăng chi phí cho NB và gia đình của họ và đặc biệt là làm tăng khả năng đề kháng của vi sinh vật với thuốc kháng sinh (1). Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 2 triệu BN mắc các bệnh nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe và ước tính gần 90.000 người tử vong vì NKBV (2).
Chi phí trực tiếp và gián tiếp cho vấn đề NKBV mỗi năm của Hoa Kỳ lên tới 96–147 tỷ đô la (3). WHO đã khẳng định vệ sinh tay (VST) là biện pháp đơn giản, rẻ tiền, dễ thực hiện nhất và hiệu quả nhất trong phòng ngừa NKBV (1). Nhiều nghiên cứu cho thấy khi NVYT tuân thủ VST thì sẽ giảm được tỷ lệ NKBV. Chẳng hạn tại Thụy Sỹ khi tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tăng từ 48% lên 66% thì tỷ lệ NKBV giảm từ 16,9% xuống còn 9,9% (4).
Tại Phần Lan, tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tăng từ 76,4% lên 88,5% thì số ca NKBV giảm từ 14,0% xuống 11,7% (5). Theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2007) cho thấy 97,6% NVYT cho rằng VST làm giảm nguy cơ NKBV ở người bệnh và 96,1% cho rằng việc này sẽ giảm NKBV ở NVYT. Như vậy, rõ ràng bằng cách vệ sinh tay thường quy (VSTTQ) chúng ta hoàn toàn có thể giảm thiểu tỷ lệ NKBV một cách tối đa và ít tốn kém nhất. Ở nước ta, mặc dù BYT đã có những quy định, hướng dẫn cụ thể về việc VSTTQ cho NVYT nhưng không phải ai trong số họ cũng thực hành đúng và tốt công việc này.
Bằng chứng là hàng năm vẫn có những báo cáo liên quan đến các vấn đề tuân thủ VSTTQ chưa tốt, tỷ lệ tuân thủ còn thấp và không đều nhau giữa các thời điểm và giữa các khoa (6-9). Các nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố như kiến thức, thâm niên công tác, kiểm tra giám sát, dung dịch VST, cường độ làm việc,. ảnh hưởng đến việc tuân thủ VSTTQ của NVYT (9, 10). 2 Bệnh viện Quốc tế Thái Hòa (BVQTTH) là BV hạng II trực thuộc Sở Y tế Đồng Tháp, đóng tại trung tâm Thành phố Cao Lãnh.
Mỗi ngày BV tiếp nhận khoảng 600 lượt khám bệnh phục vụ nhân dân tỉnh Đồng Tháp và các tỉnh lân cận. BV thường xuyên tiếp nhận nhiều ca bệnh nặng, số lượng bệnh đông nên sự lây nhiễm chéo rất dễ xảy ra tác động trực tiếp lên tình trạng NKBV. Trong số các NVYT thì Điều dưỡng (ĐD) đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc NB. Đặc thù công việc của họ là thường xuyên tiếp xúc với NB.
Thời gian họ trực tiếp thực hiện công việc chăm sóc NB nhiều hơn so với những NVYT khác do đó giữ đôi bàn tay sạch sẽ của họ là một vấn đề vô cùng quan trọng góp phần giảm thiểu tình trạng lây nhiễm chéo giữa những NB. Mặc dù BV đã và đang triển khai các chương trình VST theo hướng dẫn của BYT. Tuy nhiên, tỷ lệ NKBV không giảm mà tăng lên qua các năm 2019 (0,27%), năm 2020 (0,35%) (11) và hiện tại cũng chưa có nghiên cứu nào đánh giá về thực trạng VSTTQ của ĐD tại BV này. Vậy hoạt động tuân thủ VSTTQ của ĐD trong BVQTTH hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến họat động VSTTQ của các ĐD tại BV? Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Tuân thủ vệ sinh tay thường quy của Điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quốc tế Thái Hòa tỉnh Đồng Tháp, năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng” để tiến hành nghiên cứu.
3 Mục tiêu nghiên cứu 1. Mô tả thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của Điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quốc tế Thái Hòa tỉnh Đồng Tháp, năm 2021. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của Điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Quốc tế Thái Hòa tỉnh Đồng Tháp, năm 2021. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm, định nghĩa và tầm quan trọng của VST 1.1 Một số thuật ngữ, khái niệm, định nghĩa Theo tài liệu Hướng dẫn thực hành VST trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của BYT (ban hành kèm theo quyết định số: 3916/QĐ-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2017 của Bộ trưởng BYT) (12) thì: Vệ sinh tay: Là một thuật ngữ chung để chỉ làm sạch bàn tay bằng nước với xà phòng hoặc với dung dịch VST chứa cồn/cồn.
Rửa tay: Là rửa tay với nước và xà phòng thường. Rửa tay khử khuẩn: Là rửa tay với nước và xà phòng khử khuẩn. Chà tay khử khuẩn: Là chà toàn bộ bàn tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn (không dùng nước) nhằm làm giảm lượng vi khuẩn có trên bàn tay. Những chế phẩm vệ sinh tay chứa cồn thường chứa 60% đến 90% cồn ethanol hoặc isopropanol hoặc kết hợp các loại cồn trên với một chất khử khuẩn khác.
Xà phòng khử khuẩn: Là xà phòng ở dạng bánh hoặc dung dịch có chứa chất khử khuẩn. Xà phòng thƣờng : Là hợp chất có hoạt tính làm sạch, không chứa chất khử khuẩn. Dung dịch vệ sinh tay chứa cồn: Là chế phẩm vệ sinh tay dạng dung dịch, dạng gel hoặc dạng bọt chứa cồn isopropanol, ethanol hoặc n-propanol, hoặc kết hợp hai trong những thành phần này hoặc với một chất khử khuẩn và được bổ sung chất làm ẩm, dưỡng da; được sử dụng bằng cách chà tay cho tới khi cồn bay hơi hết, không sử dụng nước (12). Cơ hội VST: Là những thời điểm cần VST trong khi chăm sóc người bệnh, giúp ngăn chặn lây bệnh (2), bao gồm các thời điểm: (1) Trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh (Trước TXBN) (2) Trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn (Trước TTVT) (3) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể (Sau TXM) (4) Sau khi tiếp xúc với người bệnh (Sau TXBN) 5 (5) Sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng xung quanh người bệnh (Sau TXQBN) - VSTTQ: Khi NVYT có rửa tay ở 5 thời điểm VSTTQ (cơ hội VST) bắt buộc theo hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới WHO và có rửa tay bằng dung dịch, rửa tay bằng nước với xà phòng hoặc bằng dung dịch chứa cồn/cồn (12).
- Tuân thủ VSTTQ: có rửa tay vào đúng 5 thời điểm VSTTQ và phải thực hiện đúng và đủ quy trình kỹ thuật 6 bước rửa tay của BYT quy định (12). Chỉ định VST: Là lí do cho một hành động VST, VST vào 5 thời điểm VSTTQ (13).2 Tầm quan trọng của VST Bàn tay là phƣơng tiện lây truyền vi sinh vật Ngay từ thế kỷ 17, các nghiên cứu của Ignaz Semmelweis ở Vienna (Áo) đã cho thấy bàn tay của NVYT là trung gian lan truyền các mầm bệnh trong bệnh viện (14). Tiếp theo nhiều thập kỷ sau đó, nhiều nghiên cứu đã đưa ra chứng cứ về khả năng lây truyền mầm bệnh qua trung gian bàn tay. NVYT là người hằng ngày trực tiếp thực hiện công việc chăm sóc người bệnh dó đó bàn tay họ tiếp xúc trực tiếp với da, máu, dịch tiết môi trường xung quanh người bệnh.
Trong quá trình chăn sóc người bệnh bàn tay NVYT có thể bị tích lũy tác nhân gây bệnh như các loại VSV, vi rút, nấm,.có thể lây truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc của bàn tay. Nếu không VST sạch sẽ đúng cách , thời gian chăm sóc người bệnh càng lâu thì mức độ ô nhiễm bẩn bàn tay và nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn của người bệnh càng cao. Bàn tay của NYYT bị nhiễm bẩn ngay khi tiếp xúc trực tiếp với VSV mang mầm bệnh. Các loại VSV này sẽ bám vào và không ngừng sinh sôi bề mặt da tay.
Nếu không VST sạch sẽ, khi thực hiện các thao tác chuyên môn chăm sóc người bệnh thì vô hình chung bàn tay nhiễm bẩn của NVYT sẽ phát tán các VSV gây bệnh cho người bệnh hoặc những đồ vật/nơi mà NVYT chạm tay vào. Theo WHO thì việc lây truyền mầm bệnh liên quan đến chăm sóc sức khỏe từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác qua bàn tay của NVYT đòi hỏi phải có năm bước tuần tự: - Các VSV có trên da của bệnh nhân hoặc trên các đồ vật, môi trường xung quanh người bệnh. 6 - Các VSV bám vào tay của NVYT (thông qua tiếp xúc, đụng chạm). - Các VSV tồn tại trên bề mặt da của bàn tay NVYT.
- NVYT bỏ qua hoặc VST không đầy đủ hoặc hoặc dung dịch được sử dụng để vệ sinh tay không phù hợp. - Bàn tay bị ô nhiễm của NVYT tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân khác hoặc với đồ vật/nơi mà bàn tay họ chạm vào sẽ phát tán VSV gây bệnh (1). Các nhà khoa học đã xác định được rằng, trên 1 cm2 da của người bình thường có chứa tới 40. Đặc biệt số lượng này còn nhiều hơn ở trên da bàn tay, vốn là nơi thường xuyên tiếp xúc với đủ mọi vật dụng trong cuộc sống hàng ngày (6).
Theo khảo sát của Huỳnh Tuấn Minh thì có khỏang 11 loại vi khuẩn thường xuất hiện trên bàn tay NVYT. Đáng chú ý là bàn tay hiện diện một lúc nhiều VSV (15). Kết quả khảo sát của Lê Thị Anh Thư và cộng sự (Bệnh viện Chợ Rẫy), lượng vi khuẩn trung bình có ở bàn tay NVYT là 5,4 log, cao nhất ở hộ lý, kế đến là bác sỹ và thấp nhất là điều dưỡng (12). Khi tay NVYT trực tiếp tiếp xúc với đồ vật, bề mặt xung quanh người bệnh hay dụng cụ chăm sóc nào cũng sẽ bị nhiễm vi sinh vật ngay lập tức.
Các mầm bệnh thường bám trên bàn tay NVYT gồm nấm, virut, vi khuẩn, trong đó vi khuẩn là loại thường gặp nhất gây ra NKBV.B chia vi khuẩn trên da bàn tay làm 2 nhóm: Vi khuẩn vãng lai và vi khuẩn định cư. + Vi khuẩn định cư: Gồm các cầu khuẩn gram (+): S. và các vi khuẩn gram (-): Acinetobacter, Enterobacter. Các vi khuẩn gram (-) thường chiếm tỷ lệ cao ở tay NVYT thuộc đơn vị hồi sức cấp cứu, đặc biệt ở những người VST dưới 8 lần/ngày.
Phổ vi khuẩn định cư thường cư trú ở lớp sâu của biểu bì da.