Mở đầu Phần này là phần giới thiệu đề tài, tính thời sự của đề tài, cái mới và ý nghĩa, đối tƣợng và mục đích nghiên cứu, phƣơng pháp và tƣ liệu nghiên cứu và cuối cùng trình bày phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của luận án. Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến luận án Trƣớc hết, phần đầu chƣơng giới thiệu những lý luận chung về từ loại. Tiếp theo là phần trình bày những nét cơ bản về đối tƣợng nghiên cứu là trạng từ tiếng Anh và phó từ tiếng Việt trong hệ thống từ loại. Trạng từ tiếng Anh cũng lần lƣợt đƣợc mô tả những đặc điểm về hình thái học, về chức năng cú pháp, chức năng nghĩa, chức năng ngữ dụng.
Phần cuối của chƣơng dành bàn về đặc điểm của phó từ tiếng Việt và những cách hiểu, cách phân định từ loại này của giới Việt ngữ học.Viet - 21 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chƣơng 2: Trạng từ tiếng Anh trong chức năng gia ngữ Chƣơng này dành cho việc trình bày những đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu một cách cụ thể, xác định định nghĩa mang tính làm việc của trạng từ gia ngữ. Những trạng từ gia ngữ tiếng Anh đƣợc đề cập gồm trạng từ gia ngữ phƣơng thức, trạng từ gia ngữ địa điểm, trạng từ gia ngữ thời gian, trạng từ gia ngữ nhấn mạnh và trạng từ gia ngữ tiêu điểm. Chƣơng 3: Cách biểu đạt tƣơng đƣơng ở tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh trong chức năng 1 Nội dung của chƣơng 3 là xác lập các mô hình biểu đạt tƣơng đƣơng trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh bổ nghĩa cho vị tố.
Đó là các trạng từ gia ngữ phƣơng thức, trạng từ gia ngữ địa điểm và trạng từ gia ngữ thời gian. Ngoài các mô hình phổ biến, những trƣờng hợp ngoại lệ cũng đƣợc đề cập. Chúng tôi đề cập khả năng diễn đạt nghĩa chu cảnh của 3 trạng từ gia ngữ này. Chƣơng 4: Cách biểu đạt tƣơng đƣơng ở tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh trong chức năng 2 Trình tự trình bày của chƣơng này tƣơng tự nhƣ chƣơng 3 (trình bày những mô hình tƣơng đƣơng, những ngoại lệ).
Trong chƣơng này, chúng tôi đề cập đến hai loại trạng từ gia ngữ là trạng từ gia ngữ nhấn mạnh và trạng từ gia ngữ tiêu điểm. Ngoài ra, điểm khác biệt rõ nhất trong chƣơng này so với chƣơng 3 là ngoài việc đề cập đến chức năng gia ngữ (bổ nghĩa cho vị tố, làm thành phần câu) của hai trạng từ gia ngữ nhấn mạnh và trạng từ gia ngữ tiêu điểm, chƣơng này còn bàn luận về chức năng bổ nghĩa cho những phần khác (LUAN.Viet - 22 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet trong câu trong vai trò bổ tố của hai loại trạng từ gia ngữ này. Khả năng diễn đạt nghĩa liên nhân của các trạng từ gia ngữ nhóm này cũng là nội dung đƣợc chúng tôi đề cập. Kết luận Trong phần kết luận chúng tôi đề xuất một số gợi ý trong quá trình giảng dạy và dịch thuật trạng từ gia ngữ tiếng Anh từ các phân tích, lý giải và những mô hình của cách biểu đạt tƣơng đƣơng trong tiếng Việt của trạng từ gia ngữ tiếng Anh.Viet - 23 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.
LÝ LUẬN VỀ TỪ LOẠI Thuật ngữ “parts of speech” Thuật ngữ “parts of speech” có nghĩa là các thành phần của lời nói chứ không có nghĩa là từ loại, nhƣ ta vẫn quen dùng ngày nay. “Parts of speech” bị dịch nhầm từ cụm từ trong tiếng Hy Lạp meroi logou, và cụm từ trong tiếng La - tinh partes orationis có nghĩa là các thành phần câu (parts of a sentence), hay nói đúng hơn là phân tích các từ trong câu ra thành các lớp dựa vào chức năng hoặc đặc điểm hình thái của chúng [136, tr. Đúng ra từ loại phải đƣợc gọi là word classes hoặc form classes [158, tr. Việc phân chia các lớp từ trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ Với xuất phát điểm là lời nói, từ loại là những bộ phận của lời nói, hai nhà triết học Protogorat (485-411) và Platon (439-347) là những ngƣời đầu tiên đã chia từ trong tiếng Hy Lạp ra làm hai loại là danh từ và động từ.
Nhƣng mãi đến thời của Aritat (thế kỷ I trƣớc công lịch), ông và các học trò của ông mới chia từ của tiếng Hy - lạp thành tám loại là danh từ, động từ, tính động từ, thành phần, đại danh từ, giới từ, trạng từ/phó từ và liên từ. Vào thế kỷ thứ tƣ sau công nguyên, Donatus và Priseianus chia từ tiếng La - tinh lại thành tám loại: danh từ, đại từ, động từ, tính động từ, trạng từ/phó từ, liên từ, giới từ và thán từ. Do tiếng La - tinh là thứ tiếng thông dụng ở châu Âu thời đó mà cách phân chia này về sau trở thành “bản mẫu cho các nhà ngữ pháp ở châu Âu”.Viet - 24 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet Có thể nhận thấy rằng việc phân định từ loại vào thời xa xƣa thiếu một nguyên tắc nhất quán. Mãi đến đầu thế kỷ 19, từ loại mới đƣợc nhà ngôn ngữ học ngƣời Đức là A.
Bernhardi chủ trƣơng phân định theo nguyên tắc lô - gích. Tác giả này phân từ loại thành nhiều bậc: thực từ (redeteile), hƣ từ (redeteilchen), đại từ là loại trung gian (redeteile und redeteilechen zugleigh). Về sau khi ngôn ngữ học phát triển và nhu cầu so sánh các ngôn ngữ cũng phát triển vấn đề phân định các từ loại trong từng ngôn ngữ cũng đƣợc quan tâm hơn trƣớc. Vấn đề phân định từ loại đƣợc rất nhiều nhà ngôn ngữ học ở Nga quan tâm thảo luận.
Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 nhƣ F. Fortunatov [27], ngƣời chủ trƣơng phân định các từ loại theo sự biến hoá hình thức của từ; L. Sherba [69] dựa vào sự tổng hợp của các đặc điểm về hình thức, cú pháp và ý nghĩa. Tiếp tục tƣ tƣởng của L.
Vinogradov [94] chú trọng đến cả ba mặt ý nghĩa, chức năng cú pháp và hình thái của từ. Các ngôn ngữ Đông Á (tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Thái, …), có đặc điểm không biến hình, cũng đƣợc các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu, và họ cho rằng các ngôn ngữ đó không có từ loại. Đó là ý kiến của các tác giả nhƣ: H. Grammont và Lê Quang Trinh [183] khi bàn về từ loại trong tiếng Việt đã nhận xét: “Trong tiếng Việt, không có quán từ, danh từ, cũng không có đại từ, động từ không có giống, không có số: chỉ có từ không thôi, những từ đó nhất loạt là đơn âm tiết, nói chung không biến hình và ý nghĩa cơ bản của chúng là do những từ đặt trƣớc hay đặt sau, nghĩa là do tác dụng và vị trí của chúng ở trong câu làm cho biến đổi đi và rõ ra.Viet - 25 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet Tóm lại, vấn đề phân định từ loại là vấn đề đã đƣợc đặt ra từ rất lâu nhƣng cho đến nay vẫn chƣa hết bàn cãi vì xuất phát điểm của các nhà nghiên cứu không giống nhau, phƣơng pháp phân tích cũng khác nhau.
Các khuynh hướng phân định từ loại Với quan điểm cho rằng từ loại “là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, đƣợc phân chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lƣu và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu”, Đinh Văn Đức nhận xét: các nhà ngôn ngữ học giai đoạn trƣớc thừa nhận từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, nhƣng lại không thống nhất trong cách xác định đặc trƣng nào là cơ bản của của các từ loại. Theo Đinh Văn Đức [26], có ba khuynh hƣớng khác nhau trong lý thuyết về từ loại. Khuynh hướng 1: Từ loại đƣợc phân định dựa trên một tập hợp của các đặc trƣơng: đặc trƣng ngữ nghĩa, đặc trƣng hình thái và đặc trƣng cú pháp. Khuynh hƣớng này tập trung nhiều tác giả thuộc các trƣờng phái khác nhau nhƣ: O.
Cả ba tác giả tiêu biểu này đều “coi từ loại nhƣ một phổ niệm của ngữ pháp” [26, tr. 25] Khuynh hướng 2: Từ loại đƣợc phân định theo đặc trƣng ngữ pháp thuần tuý (hay còn gọi là khuynh hƣớng ngữ pháp, khuynh hƣớng hình thức). Các tác giả đại diện cho khuynh hƣớng này đều cho rằng từ loại là những lớp từ đƣợc phân chia dựa theo những đặc điểm hình thức ngữ pháp (trên cả bậc hình thái học và bậc cú pháp). Theo khuynh hƣớng này thì “các ngôn ngữ không có hình thái khó có thể đặt vấn đề phân định từ loại”, và từ loại là “một vấn đề ngữ pháp có tính chất loại hình của một số ngôn ngữ chứ không phải là một phổ niệm cho hết thảy các ngôn ngữ” [26, tr.Viet - 26 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Viet Khuynh hướng 3: Từ loại tƣơng quan với lô - gích, với các phạm trù của tƣ duy.
Khuynh hƣớng này không đối lập với hai khuynh hƣớng trên, mà còn có quan hệ chặt chẽ với khuynh hƣớng thứ nhất vì “cả hai đều quan tâm tới ý nghĩa của các từ loại” nhƣng chỉ khác nhau ở điểm một số nhà ngôn ngữ học theo khuynh hƣớng này đã “rất quan tâm tới bản chất ý nghĩa của các từ loại, cũng nhƣ mối quan hệ giữa từ loại và các phạm trù của tƣ duy” [26, tr. 27] Trong ba khuynh hƣớng trên đây, khuynh hƣớng thứ nhất tập trung ý kiến của nhiều tác giả hơn cả. Khuynh hƣớng này đƣợc áp dụng triệt để trong nghiên cứu các ngôn ngữ Ấn Âu, trong đó có tiếng Anh. Vấn đề phân chia từ loại đƣợc tiến hành căn bản dựa trên khuynh hƣớng cho rằng từ loại là một phạm trù từ vựng - ngữ pháp, là một tập hợp đặc trƣng bao gồm các mặt ý nghĩa, mặt hình thái và mặt cú pháp.
Trong công trình “Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại”, Đinh Văn Đức giải thích “với ngôn ngữ, trong mọi trƣờng hợp, phải đọc đƣợc cái nghĩa (meaning) của nó vì ngôn ngữ tồn tại là để biểu nghĩa. Với từ loại cũng vậy, phải hiểu cho đƣợc bản chất nghĩa của chúng” [26, tr. Vấn đề phân định từ loại tiếng Anh và tiếng Việt sẽ đƣợc chúng tôi lần lƣợt trình bày trong chƣơng này. Trong luận án này chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề liên quan đến trạng từ ở hai ngôn ngữ Anh và Việt mà không xây dựng một cơ sở lý luận rộng hơn về trạng từ ở các ngôn ngữ khác nhau.