Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong trình tự tố tụng hình sự Việt Nam, giai đoạn xét xử sơ thẩm giữ vị trí trung tâm, có nhiệm vụ trực tiếp xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ để đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm. Để bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Trung ương Đảng về chiến lược cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tòa án nhân dân được xác định là trung tâm và công tác xét xử là trọng tâm.

Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự, nếu phát hiện những thiếu sót, sai lầm nghiêm trọng trong quá trình điều tra, truy tố mà Tòa án không thể tự khắc phục bổ sung tại phiên tòa, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung là biện pháp tố tụng mang tính chất bắt buộc. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập: một số trường hợp Tòa án trả hồ sơ không thực sự cần thiết, hoặc ngược lại chưa phát hiện hết vi phạm dẫn đến bản án bị cấp phúc thẩm tuyên hủy để điều tra lại; quan điểm đánh giá chứng cứ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên còn nhiều điểm thiếu thống nhất. Do đó, tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự với đề tài "Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự".

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động này. Để đạt mục đích trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm rõ khái niệm, ý nghĩa của trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
  2. Phân tích, đánh giá các quy định của luật thực định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
  3. Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
  4. Đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm 3 nhóm vấn đề: lý luận về trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn xét xử sơ thẩm; các quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành; và thực tiễn áp dụng cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả. Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận giới hạn ở góc độ lý luận và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015; phạm vi thực tiễn được khảo sát trên phạm vi toàn quốc trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2019 đến ngày 31 tháng 3 năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý luận và pháp lý, nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Tác giả kế thừa và đối chiếu các khái niệm pháp lý từ Từ điển tiếng Việt, Từ điển Bách khoa Công an nhân dân, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), Học viện Cảnh sát nhân dân (2007); cùng các công trình nghiên cứu chuyên khảo, luận văn thạc sĩ của các tác giả như Võ Khánh Vinh (2004), Trần Xuân Huệ (2009), Nguyễn Thị Hải Châu (2010), Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng (2016), Lý Thị Hoài (2020), Quách Mạnh Thành (2021).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp được trích dẫn và phân tích gồm:

  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), đặc biệt là các điều 7, 45, 85, 174, 230, 236, 245, 246, 277, 280, 326.
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung (kế thừa Thông tư liên tịch số 01/2010).
  • Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành biểu mẫu trong tố tụng hình sự (Mẫu số 33-HS).
  • Quy chế số 111/2020/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp làm phương pháp chủ đạo xuyên suốt các nội dung lý luận và điều luật; phương pháp thống kê để xử lý chuỗi số liệu từ năm 2019 đến quý I/2024; phương pháp khảo sát thực tiễn và phương pháp nghiên cứu bản án điển hình nhằm minh chứng cho các trường hợp trả hồ sơ đúng pháp luật cũng như các trường hợp bị Viện kiểm sát từ chối.

Nguồn dữ liệu thực chứng của khóa luận được thu thập từ Báo cáo thống kê kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân giai đoạn 2019 - 2023; Báo cáo chuyên đề thực trạng án trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (tính đến tháng 3/2024); Báo cáo tổng kết công tác xét xử của ngành Tòa án nhân dân; và số liệu từ các công trình nghiên cứu thực tế tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Cao Bằng, Quảng Ninh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trong chương này, tác giả hệ thống hóa các vấn đề lý luận và phân tích chi tiết quy định pháp luật thực định:

  • Khái niệm và đặc điểm: Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm được định nghĩa là hoạt động tố tụng do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (tại phiên tòa) chuyển trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để tiến hành điều tra thêm khi phát hiện có sai lầm, thiếu sót nghiêm trọng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố mà Tòa án không thể tự bổ sung, khắc phục được.
  • Chủ thể, thời điểm và đối tượng: Chủ thể có thẩm quyền gồm Thẩm phán chủ tọa phiên tòa (giai đoạn chuẩn bị xét xử theo Khoản 2 Điều 45, Khoản 1 Điều 280 BLTTHS 2015) và Hội đồng xét xử (tại phòng nghị án theo Khoản 3 Điều 326 BLTTHS 2015, Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 02/2017). Thời điểm thực hiện gồm hai mốc: trong thời hạn chuẩn bị xét xử (từ 30 ngày đến 03 tháng tùy mức độ nghiêm trọng của tội phạm theo Điều 277) và tại phiên tòa sơ thẩm. Đối tượng trả là toàn bộ hồ sơ vụ án hình sự chứa đựng chứng cứ, văn bản tố tụng do các cơ quan tiến hành tố tụng lập ra.
  • Căn cứ trả hồ sơ: Quy định tại Điều 280 BLTTHS năm 2015, bao gồm 4 nhóm trường hợp: (1) Thiếu chứng cứ chứng minh các vấn đề quy định tại Điều 85 BLTTHS mà không thể bổ sung tại phiên tòa; (2) Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác cấu thành tội phạm; (3) Có căn cứ còn đồng phạm khác hoặc người phạm tội khác liên quan chưa được khởi tố; (4) Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (như không có lệnh phê chuẩn, không chỉ định người bào chữa bắt buộc, không giao văn bản tố tụng, bức cung, nhục hình, vi phạm thẩm quyền). Tác giả so sánh và chỉ ra điểm khác biệt giữa giai đoạn xét xử sơ thẩm và giai đoạn truy tố: Tòa án trả hồ sơ khi phát hiện "hành vi khác", còn Viện kiểm sát trả hồ sơ khi phát hiện "tội phạm khác". Nếu hành vi truy tố cấu thành một "tội danh khác", Tòa án có quyền xét xử trực tiếp theo giới hạn luật định mà không cần trả hồ sơ.
  • Ý nghĩa: Chế định mang ba tầng ý nghĩa: ý nghĩa pháp lý (bảo đảm tính pháp chế, sự thật khách quan, phòng chống oan sai và bỏ lọt tội phạm); ý nghĩa chính trị (hiện thực hóa các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng); ý nghĩa xã hội (củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý, bảo đảm trật tự xã hội). Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra mặt tiêu cực nếu lạm dụng: gây kéo dài thời hạn tố tụng, tăng chi phí và ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị buộc tội.
  • Quy định về thời hạn, thủ tục và hậu quả pháp lý: Thời hạn điều tra bổ sung theo quyết định của Tòa án là không quá 01 tháng tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ; Thẩm phán chỉ được trả hồ sơ 01 lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả 01 lần (tổng số lần Tòa án trả không quá 02 lần theo Khoản 2 Điều 174 BLTTHS). Quyết định trả hồ sơ lập theo Mẫu số 33-HS gửi kèm hồ sơ cho Viện kiểm sát trong thời hạn 03 ngày. Hậu quả pháp lý: Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét, nếu có căn cứ thì tự điều tra hoặc chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra; nếu nhận thấy quyết định trả hồ sơ không có căn cứ thì Viện kiểm sát có văn bản giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ để Tòa án tiếp tục xét xử theo Điều 246 và Điều 280 BLTTHS.

Chương 2: Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật hiện hành về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số kiến nghị

Chương 2 phản ánh toàn diện số liệu thực tế áp dụng từ năm 2019 đến quý I/2024, phân tích kết quả, các vướng mắc và căn nguyên pháp lý:

  • Tình hình thu lý và xét xử: Từ năm 2019 đến năm 2023, Tòa án nhân dân sơ thẩm toàn quốc đã thụ lý 396.816 vụ án với 731.765 bị cáo (trung bình hơn 79.363 vụ và 146.000 bị can/năm); đã đưa ra giải quyết, xét xử 331.267 vụ với 588.057 bị cáo.
  • Thực trạng và tỷ lệ trả hồ sơ: Giai đoạn 2019 - 2021, số vụ Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung duy trì ở mức dưới 4% tổng số án thụ lý (năm 2019: 2.156 vụ; năm 2020: 2.669 vụ; năm 2021: 2.764 vụ / 81.596 vụ thụ lý). Đến giai đoạn 2022 - 2023, tỷ lệ này có xu hướng gia tăng: năm 2022 Tòa án trả 3.024 vụ (chiếm 4,6% tổng số vụ thụ lý), năm 2023 tỷ lệ đạt trên 5%. Riêng trong báo cáo chuyên đề của Viện kiểm sát nhân dân tối cao giai đoạn 3 tháng cuối năm 2023 và 3 tháng đầu năm 2024, Tòa án đã xét xử 43.081 vụ và ra quyết định trả hồ sơ đối với 1.835 vụ.
  • Cơ cấu lý do Tòa án trả hồ sơ: Khảo sát chi tiết trên 727 vụ Tòa án trả hồ sơ được Viện kiểm sát chấp nhận (tính đến tháng 3/2024) cho thấy:
    1. Phát sinh tình tiết mới hoặc lý do khác: 377 vụ (chiếm tỷ lệ cao nhất: 51,8%), chủ yếu do bị cáo, người tham gia tố tụng thay đổi lời khai hoặc cung cấp tài liệu mới tại phiên tòa.
    2. Thiếu chứng cứ quan trọng không thể bổ sung: 223 vụ (30,7%), chủ yếu nhằm làm rõ vai trò đồng phạm, trách nhiệm dân sự, kết luận giám định. Dẫn chứng vụ án Trần Ngọc Sơn và đồng phạm tại Thành phố Hồ Chí Minh phạm tội theo Điều 206 BLHS (Tòa án trả hồ sơ yêu cầu lấy lời khai làm rõ trách nhiệm cá nhân đứng tên hợp đồng vay và tất toán khoản vay).
    3. Có căn cứ còn đồng phạm, người phạm tội khác: 66 vụ (9,1%), kết quả điều tra đã khởi tố thêm 15 trường hợp.
    4. Có căn cứ bị can thực hiện hành vi khác: 34 vụ (4,6%), kết quả khởi tố 01 vụ.
    5. Có căn cứ bị can phạm tội danh khác hoặc tội nặng hơn: 25 vụ (3,4%).
    6. Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: 02 vụ (0,3%), liên quan đến lỗi tống đạt, thiếu người bào chữa, giám hộ.
    • Phân loại theo nhóm tội phạm: Nhóm tội về trật tự xã hội chiếm tỷ lệ trả hồ sơ cao nhất (51,3%), tiếp theo là tội phạm về ma túy (14,3%) và tội phạm kinh tế - môi trường (7,2%).
  • Kết quả đạt được qua các vụ án thực tế: Nhiều quyết định trả hồ sơ bảo đảm tính chuẩn xác, khắc phục triệt để vi phạm. Điển hình: Vụ Quách Thị Lệ Quyên và Nguyễn Mạnh Thắng (TAND TP Hà Nội trả hồ sơ yêu cầu điều tra dấu hiệu tội phạm của 2 công chứng viên theo Điều 360 BLHS); Vụ Phạm Thị Tú Ngọc và Lê Quốc Cường phạm tội Đánh bạc tại Quận 7, TPHCM (Hội đồng xét xử trả hồ sơ làm rõ vai trò đồng phạm của người chồng là Nguyễn Thanh Tâm); Vụ Nguyễn Thị Thanh Hường (TAND TP Hà Nội trả hồ sơ để điều tra bổ sung tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 255 BLHS).
  • Hạn chế và vướng mắc:
    • Chưa phát hiện hết sai sót dẫn đến hủy án sơ thẩm: Trong 5 năm (2019 - 2023), Tòa án cấp phúc thẩm đã xét xử 49.000 vụ, trong đó tuyên hủy 1.592 bản án sơ thẩm để điều tra lại (chiếm tỷ lệ 3,18%; năm 2022 cao nhất với 3,66%).
    • Tỷ lệ Viện kiểm sát không chấp nhận quyết định trả hồ sơ còn cao: Giai đoạn 2019 - 2021, tỷ lệ hồ sơ Tòa án trả bị Viện kiểm sát bác bỏ dao động từ 41,3% đến 57,8% (năm 2019 có 889/2.156 vụ bị từ chối, chiếm 41,3%). Giai đoạn 2022 - 2023, tỷ lệ không chấp nhận vượt quá 60% (chỉ chấp nhận khoảng 38,5% - 40%). Giai đoạn cuối 2023 - đầu 2024, Viện kiểm sát không chấp nhận 898 vụ (chiếm 48,9% tổng số vụ Tòa án yêu cầu). Dẫn chứng vụ Trịnh Bảo Quốc tại TAND quận Hoàng Mai (Hà Nội): Tòa án trả hồ sơ yêu cầu giám định và thu giữ tang vật nhưng Viện kiểm sát ra công văn từ chối do các nội dung đã được làm rõ từ trước.
  • Nguyên nhân bất cập về mặt pháp luật: Tác giả phân tích 4 lỗ hổng lớn trong quy định hiện hành:
    1. Điều 326 BLTTHS chưa quy định cụ thể các căn cứ để Hội đồng xét xử trả hồ sơ: Khoản 6 Điều 326 chỉ liệt kê việc trả hồ sơ là một trong các quyết định khi kết thúc nghị án nhưng không dẫn chiếu các trường hợp cụ thể như quy định đối với Thẩm phán tại Điều 280.
    2. Thiếu quy định về thời hạn Viện kiểm sát xem xét quyết định trả hồ sơ của Tòa án: Pháp luật chưa ấn định khoảng thời gian tối đa để Viện kiểm sát nghiên cứu quyết định của Tòa án trước khi chuyển cho Cơ quan điều tra, dẫn đến tranh cãi thực tiễn về việc tính thời hạn điều tra bổ sung (tính từ lúc Viện kiểm sát nhận hay Cơ quan điều tra nhận).
    3. Chưa quy định thời hạn Viện kiểm sát tự mình tiến hành điều tra bổ sung: Khoản 2 Điều 174 chỉ quy định thời hạn Cơ quan điều tra tiến hành bổ sung (không quá 01 tháng), chưa xác định thời hạn khi Viện kiểm sát trực tiếp điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án.
    4. Thiếu chế tài bắt buộc thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung: Luật chưa quy định cơ chế trách nhiệm cụ thể khi Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát không thực hiện hoặc thực hiện chiếu lệ các yêu cầu trong quyết định của Tòa án rồi hoàn lại hồ sơ.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu của khóa luận đem lại các kết quả định lượng cụ thể thông qua việc tổng hợp dữ liệu thực tiễn công tác tố tụng toàn quốc:

Chỉ số thống kê tố tụng Giai đoạn 2019 - 2021 Năm 2022 Năm 2023 3 tháng cuối 2023 - 3 tháng đầu 2024
Tổng số vụ án sơ thẩm thụ lý 81.596 vụ (năm 2021) 68.354 vụ (đã xét xử) — 43.081 vụ (đã xét xử)
Số vụ Tòa án trả hồ sơ để ĐTBS 2.156 vụ (2019)
2.669 vụ (2020)
2.764 vụ (2021)
3.024 vụ (ngành Tòa án) — 1.835 vụ (báo cáo VKSTC)
Tỷ lệ hồ sơ trả trên tổng thụ lý Dưới 4,0% 4,6% Trên 5,0% Tăng so với 2019-2021
Số vụ VKS chấp nhận trả hồ sơ 3.592 / 7.589 vụ (47,3%) 1.340 vụ (ngành VKS)
1.477 vụ (ngành Tòa án)
1.477 vụ (ngành Tòa án) 727 vụ (1,7% tổng án truy tố)
Số vụ VKS không chấp nhận 41,3% - 57,8% Khoảng trên 60% Khoảng trên 60% 898 vụ (48,9% tổng án trả)
Tỷ lệ án phúc thẩm hủy để điều tra lại 3,5% (năm 2019) 3,66% (cao nhất) — 3,18% (trung bình 5 năm: 1.592 vụ)

Từ các phân tích thực tiễn và lý luận, khóa luận đề xuất 4 nhóm giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự:

  • Bổ sung quy định rõ các trường hợp Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung vào Điểm c Khoản 6 Điều 326 BLTTHS 2015 nhằm tạo sự đồng bộ với Điều 280.
  • Bổ sung điều khoản khống chế thời hạn tối đa để Viện kiểm sát xem xét quyết định trả hồ sơ của Tòa án trước khi thụ lý tự điều tra hoặc chuyển giao cho Cơ quan điều tra, tránh tình trạng hồ sơ bị ngâm giữ kéo dài.
  • Quy định cụ thể thời hạn Viện kiểm sát tự mình tiến hành điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án vào Khoản 2 Điều 174 BLTTHS.
  • Hoàn thiện chế tài tố tụng xử lý trách nhiệm của Kiểm sát viên và Điều tra viên trong trường hợp từ chối hoặc thực hiện không đầy đủ nội dung yêu cầu điều tra bổ sung hợp pháp của Tòa án.

Về mặt đóng góp học thuật, khóa luận đã cập nhật hệ thống dữ liệu thực chứng giai đoạn từ năm 2019 đến quý I/2024 trên phạm vi toàn quốc. Đề tài khắc phục được giới hạn về thời gian của các nghiên cứu trước đó vốn dựa trên BLTTHS 2003 hoặc chỉ nghiên cứu phạm vi hẹp tại địa bàn một số quận, huyện, tỉnh cụ thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn xuất phát từ phạm vi tiếp cận nguồn dữ liệu thực tiễn:

  • Dữ liệu thống kê về tổng số vụ Tòa án trả hồ sơ trong năm 2023 chưa được thu thập đồng bộ giữa hai ngành Tòa án và Viện kiểm sát, dẫn đến việc tính toán tỷ lệ chấp thuận ở một số thời điểm phải dựa trên ước tính từng nguồn riêng lẻ.
  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các giải pháp lập pháp đối với BLTTHS năm 2015; các giải pháp liên quan đến quy chế phối hợp nghiệp vụ liên ngành và nâng cao năng lực đội ngũ tiến hành tố tụng chưa được triển khai thành các mục độc lập trong phần văn bản trích lược.

Hướng mở nghiên cứu tiếp theo được xác định là việc tiếp tục theo dõi, đánh giá số liệu thực thi chế định trả hồ sơ trong giai đoạn sau năm 2024; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về cơ chế giải quyết xung đột quan điểm đánh giá chứng cứ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên nhằm giảm thiểu tỷ lệ Viện kiểm sát từ chối yêu cầu điều tra bổ sung.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự và Tư pháp hình sự: tham khảo phương pháp phân tích quy định pháp luật thực định gắn liền với số liệu thống kê thực chứng toàn quốc.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Điều tra viên: tham khảo các tiêu chí phân định thẩm quyền, căn cứ trả hồ sơ theo Điều 280 BLTTHS và Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT.
  • Luật sư và người bào chữa: sử dụng các căn cứ về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và thiếu chứng cứ chứng minh quy định tại Điều 85 để đưa ra các kiến nghị trả hồ sơ hợp pháp tại phiên tòa.

Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là hệ thống bảng biểu thống kê từ năm 2019 đến năm 2024, cùng các bài học rút ra từ các vụ án thực tế bị trả hồ sơ hoặc bị từ chối trả hồ sơ được phân tích chi tiết trong Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm được trả hồ sơ để điều tra bổ sung tối đa bao nhiêu lần và thời hạn điều tra là bao lâu? Theo Khoản 2 Điều 174 BLTTHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 02/2017, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả một lần (tổng cộng Tòa án trả không quá hai lần). Thời hạn điều tra bổ sung theo quyết định của Tòa án là không quá 01 tháng, tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và quyết định trả hồ sơ.

2. Điểm khác biệt căn bản giữa căn cứ trả hồ sơ của Tòa án ở giai đoạn xét xử sơ thẩm và của Viện kiểm sát ở giai đoạn truy tố là gì? Điểm khác biệt thể hiện ở căn cứ xử lý hành vi phạm tội: Tòa án trả hồ sơ khi có căn cứ cho rằng ngoài hành vi Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện "hành vi khác" mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Trong khi đó, Viện kiểm sát trả hồ sơ khi có căn cứ khởi tố bị can về "tội phạm khác". Nếu Tòa án thấy hành vi đã truy tố cấu thành một tội danh khác, Tòa án có quyền trực tiếp xét xử về tội danh đó theo giới hạn xét xử mà không cần trả hồ sơ.

3. Tỷ lệ bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy để điều tra lại trong giai đoạn 2019 - 2023 là bao nhiêu? Trong giai đoạn 5 năm từ 2019 đến 2023, Tòa án cấp phúc thẩm đã xét xử 49.000 vụ án hình sự, trong đó có 1.592 vụ bị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, chiếm tỷ lệ trung bình là 3,18% (năm 2022 ghi nhận tỷ lệ hủy cao nhất với 3,66%).

4. Nhóm tội phạm nào và lý do nào chiếm tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung cao nhất theo số liệu khóa luận? Về nhóm tội phạm, nhóm tội về trật tự xã hội chiếm tỷ lệ cao nhất với khoảng 51,3% (ma túy chiếm 14,3%, kinh tế - môi trường chiếm 7,2%). Về lý do, căn cứ do "phát sinh tình tiết mới hoặc lý do khác" chiếm tỷ lệ cao nhất với 51,8% (377/727 vụ khảo sát), tiếp theo là "thiếu chứng cứ quan trọng không thể bổ sung" chiếm 30,7% (223/727 vụ).

5. Khóa luận chỉ ra những vướng mắc pháp lý trọng tâm nào về thời hạn xử lý của Viện kiểm sát đối với hồ sơ do Tòa án trả? Văn bản chỉ ra hai khoảng trống: thứ nhất, BLTTHS hiện hành không quy định thời hạn bắt buộc để Viện kiểm sát xem xét quyết định trả hồ sơ của Tòa án trước khi chuyển giao hồ sơ cho Cơ quan điều tra; thứ hai, luật chưa quy định thời hạn cụ thể đối với trường hợp Viện kiểm sát tự mình tiến hành điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã làm sáng tỏ các cơ sở lý luận, thẩm quyền, căn cứ và trình tự thủ tục của chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Thông qua số liệu thống kê thực chứng toàn quốc từ năm 2019 đến quý I/2024, đề tài chỉ ra thực trạng áp dụng, tỷ lệ chấp thuận của Viện kiểm sát, cũng như nguyên nhân dẫn đến các vụ án bị hủy để điều tra lại. Các kiến nghị sửa đổi, bổ sung đối với Điều 174 và Điều 326 BLTTHS năm 2015 đưa ra trong nghiên cứu mang tính xác đáng, góp phần hoàn thiện thể chế tố tụng và nâng cao chất lượng xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.