Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khi áp dụng pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo cho doanh nghiệp cơ chế tự kiểm tra, hạn chế việc kinh doanh trốn thuế.
“Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần vào việc hoàn thiện 10 hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với kinh tế thị trường, tạo điều kiện để tham gia mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, nhanh chóng hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tầm quan trọng như vậy nên việc pháp điển hóa thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài càng có ý nghĩa sâu sắc. Hệ thống thuế của một quốc gia có nhiều sắc thuế khác nhau mà thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một trong số đó. Phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội ở mỗi nước và trình độ lập pháp, sự lựa chọn của các nhà làm luật khác nhau mà việc xây dựng pháp luật thuế lại khác nhau.
Có nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật, trong đó vừa có quy định về nội dung điều chỉnh đối với các đối tượng chịu thuế vừa quy định về trình tự, thủ tục thực hiện và cơ chế quản lý, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp đối với sắc thuế đó” [31,tr. Có nước lại có một đạo luật riêng về nội dung từng sắc thuế và đạo luật riêng về quản lý thuế. Tuy nhiên nhìn vào bản chất khi doanh nghiệp thực thi một sắc thuế cụ thể thì doanh nghiệp cần thực hiện theo nội dung các quy định của sắc thuế cũng như các quy định về trình tự để thực hiện sắc thuế đó. Vì vậy, dù pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dù được xây dựng theo hình thức nào thì pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng gồm hai bộ phận: luật nội dung là luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và luật hình thức là luật quản lý thuế.
Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp và được xem như là một trong những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích nền kinh. góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hoá và đẩy mạnh xuất khẩu. Quá trình triển khai thực hiện Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế - xã hội của đất nước và đã đạt được những Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng (dưới đây viết tắt là VAT - Value Added Tax). VAT là loại thuế gián thu, đã được nhiều nước áp dụng để thay cho thuế doanh thu.
Được gọi là thuế VAT vì thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản xuất - kinh doanh, và tổng số thuế thu được ở mỗi khâu bằng chính số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Về bản chất, thuế VAT do các nhà sản xuất kinh doanh nộp hộ người tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế 11 này vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán bằng chính số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Theo Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi năm 2013, thuế GTGT được định nghĩa như sau: “Thuế giá trị gia tăng là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình tư sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng". Thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất rộng.
Mọi đối tượng tồn tại trong xã hội cho dù là tổ chức hay cá nhân, là người nghèo hay người có thu nhập cao đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế - xã hội. Điều này có nghĩa, mọi đối tượng trong xã hội đều là chủ thể chịu thuế, chủ thể thực tế phải tới sự tác động của pháp luật thuế GTGT, đối với đời sống kinh tế, xã hội. Việc đánh thuế đối với mọi đối tượng trên phạm vi lãnh thổ thể hiện rõ nét sự công bằng của thuế đồng thời thể hiện thái độ của nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội. Như vậy, thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình tư sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng được áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.
Đặc điểm thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài “Thuế GTGT tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng. Đặc điểm này của thuế GTGT còn yêu cầu pháp luật điều chỉnh phải tìm ra cách thức, phương thức phù hợp, có tính khả thi để xác định chính xác phần giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế. Nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế GTGT phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau.
Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa ở trong nước, khâu nhập khẩu và lưu thông hàng nhập khẩu nhưng cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa dịch vụ đã xác định trước và không thay đổi các phần giá trị hàng hóa dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế GTGT phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng phải chịu. Đây vừa là đặc 12 điểm vừa là ưu việt của thuế GTGT so với thuế hàng hóa dịch vụ thông thường mà Việt Nam và nhiều quốc giá khác đã áp dụng trong giai đoạn trước đây” [9,tr. Doanh nghiệp nước ngoài đầu tư sẽ phải chịu các loại thuế Việt Nam, Bất cứ Doanh nghiệp nào cần thuê xưởng sản xuất đều phải đóng thuế giá trị gia tăng. Đây là loại thuế đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong suốt quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối.
Có hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp. Phương pháp khấu trừ: Thuế giá trị gia tăng phải nộp = Thuế giá trị gia tăng đầu vào – Thuế giá trị gia tăng đầu ra được khấu trừ. Còn phương pháp trực tiếp: Thuế giá trị gia tăng phải nộp = Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra × Thuế suất thuế giá trị gia tăng. Thuế suất thuế giá trị gia tăng có ba mức: 0%, 5% và 10%.
Mức thuế được áp dụng tùy theo nhóm hàng hóa, dịch vụ. Theo quy định, Nghị định 209/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 92/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số Điều có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 của Luật sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật sửa đổi Luật thuế giá trị gia tăng theo đó, thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình tư sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng được áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1. Sự điều chỉnh của pháp luật thuế giá trị gia tăng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Thứ nhất, khắc phục được nhược điểm trùng lắp "Thuế thu trên thuế" nên góp phần khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa để nâng cao năng suất chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, phù hợp với nền kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường. Pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được áp dụng rộng rãi với mọi tổ chức và cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa hoặc được cung ứng dịch vụ, thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngooài chỉ tính vào phần giá trị tăng thêm, không tính vào vốn nên pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không những đảm bảo được nguồn thu cho NSNN tương ứng với số thuế doanh thu trước đây mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở đó để tăng thu cho NSNN. Pháp luật Thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hàng năm ở các nước thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) chiếm 18,7%. Ở Việt Nam, thuế đóng góp vào NSNN liên tục tăng). Có thể thấy, pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 13 đóng góp phần quan trọng với tỷ lệ lớn nguồn thuế nộp vào NSNN hàng năm.
Đối với nhận thức của người nộp sắc thuế này thì đây là một sắc thuế hấp dẫn hơn các sắc thuế khác vì bản chất của nó: NNT biết những gì họ phải trả và nếu họ không mua hàng hóa thì họ không phải trả tiền thuế. Do có ít tác động tiêu cực đối với tâm lý của NNT nên số pháp luật thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu được cũng chiếm tỷ lệ cao và tốt cho tăng trưởng kinh tế hơn so với thuế khác (điển hình như thuế thu nhập). Thuế VAT của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu cả đối với hàng hóa nhập khẩu tạo sự bình đẳng trong kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước.