Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số: 50408) với đề tài "Thời, thể và các phương tiện biểu hiện trong tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Trần Kim Phượng thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Minh Thuyết và TS Lê Đông.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ những vướng mắc trong lý luận ngôn ngữ học và thực tiễn ứng dụng. Trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, ý nghĩa thời gian và các phương tiện biểu hiện đã được đề cập từ rất sớm nhưng vẫn chưa đạt được sự thống nhất về quan niệm cũng như danh sách phương tiện biểu hiện. Miêu tả cụ thể về các phó từ như đã, đang, sẽ, sắp, từng, chưa, vừa, mới còn tồn tại nhiều điểm dị biệt giữa các tác giả; đồng thời các quy tắc sử dụng hệ thống phó từ này trong ngữ cảnh giao tiếp chưa được khảo sát đầy đủ. Về mặt thực tiễn, việc thiếu vắng những mô tả hệ thống dẫn đến khó khăn trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, giảng dạy ngoại ngữ cho người Việt và hoạt động dịch thuật (chẳng hạn không thể dịch cơ học thời quá khứ trong tiếng Anh, Pháp, Nga sang tiếng Việt bằng phó từ đã, hoặc dịch thời hiện tại bằng đang).

Mục đích và nhiệm vụ của luận án được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  • Mục đích chính: Miêu tả các phó từ biểu hiện ý nghĩa thời và thể trong tiếng Việt, trên cơ sở đó tìm lời giải đáp cho các câu hỏi:
    1. Các phạm trù thời và thể có tồn tại trong tiếng Việt hay không?
    2. Nếu có thì chúng được biểu hiện bằng những phương tiện ngữ pháp nào?
    3. Nếu không có thì tiếng Việt biểu hiện các ý nghĩa thời, thể bằng cách gì?
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ những đặc điểm cơ bản của các phạm trù thời và thể để vận dụng vào tiếng Việt.
    2. Khái quát những chặng đường nghiên cứu thời, thể tiếng Việt từ trước đến nay.
    3. Miêu tả cụ thể các phương tiện biểu thị ý nghĩa thời, thể tiếng Việt trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, dựa vào ngữ liệu từ các loại hình văn bản và khẩu ngữ hằng ngày.
    4. Hệ thống hoá các phó từ biểu thị ý nghĩa thời, thể theo những đặc trưng cơ bản của chúng.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cách diễn đạt các ý nghĩa thời, thể bằng con đường ngữ pháp thông qua việc sử dụng các phó từ chuyên biệt gồm: đã, sẽ, đang, từng, vừa, mới, sắp, chưa và chỉ tố zero (ø).

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn chặt chẽ:

  • Luận án không nghiên cứu cách biểu thị thời gian bằng con đường từ vựng (các thực từ như hôm qua, hôm nay, ngày mai, lúc ấy...) do các thực từ này gắn với sự tình của cả câu và có thể làm thành phần câu độc lập. Luận án cũng loại trừ các yếu tố ngữ cảnh và suy luận lôgíc thuần túy.
  • Luận án loại trừ các phó từ đứng trước vị từ như đều, cũng, vẫn, lại, còn... vì chúng không thoả mãn hai điều kiện định danh của phó từ thời-thể: (1) Có khả năng trả lời câu hỏi: đã P chưa?, và (2) Có khả năng thay thế bằng các phó từ thời, thể khác.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân chia lịch sử nghiên cứu vấn đề thời, thể trong tiếng Việt thành ba giai đoạn chính theo các xu hướng tiếp cận:

  1. Xu hướng mô phỏng ngữ pháp nhà trường Pháp:

    • G. Aubaret (1864) cho rằng đã, đà kết hợp với động từ mang ý nghĩa tính động từ quá khứ, đang chỉ tính hiện tại, sẽ biểu thị thời tương lai.
    • Trương Vĩnh Ký (1883) xác lập tiếng Việt có 3 thời cơ bản (temps primitifs: đã - quá khứ, đang - hiện tại, sẽ - tương lai) và 7 thời phái sinh (temps dérivés: khi ấy, có, vừa khi/rồi/đoạn, thì đã... trước/đi/rồi, sẽ/đã, thì sẽ, thì sẽ đã).
    • Bùi Đức Tịnh (1952) phân loại: đang, còn, vẫn, còn đang, hãy còn, vẫn còn chỉ hiện tại; vừa, vừa... xong, mới, có, đã, đã... xong, đã... rồi chỉ quá khứ; sắp, sắp sửa, sẽ chỉ vị lai.
  2. Xu hướng phủ nhận phạm trù thời-thể trong tiếng Việt:

    • M. Grammông và Lê Quang Trinh (1911) cho rằng tiếng Việt không có từ loại động từ và không có các phạm trù ngữ pháp của động từ.
    • Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1940) khẳng định động từ tiếng Việt không đổi hình, tiếng Việt không có phạm trù thời mà biểu diễn thời gian qua trạng từ chỉ thời gian làm túc từ (bây giờ, hôm qua, ngày mai), đã, rồi, xong, đang chỉ biểu diễn cục diện (thể).
    • Nguyễn Lân (1956) cho rằng tiếng Việt dùng trạng từ tương ứng hoặc dựa vào mạch văn bản để hiểu thời gian.
    • R. Jones và Huỳnh Sanh Thông (1960) nhận định phần lớn động từ tiếng Việt không có phạm trù thời, chỉ thể hiện thời qua trật tự mệnh đề hoặc trợ động từ (sẽ, có).
  3. Xu hướng quay trở lại nghiên cứu thời-thể với nhiều góc nhìn khác nhau:

    • Nhóm thừa nhận thời-thể: Phan Khôi (1955), Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), V. Panfilov (1979, 1993, 2002), Đào Thản (1979), Lê Quang Thiêm (1989), Nguyễn Văn Thành (1992, 2003), Nguyễn Minh Thuyết (1995, 1998).
    • Nhóm chỉ thừa nhận thể, phủ nhận thời: Cao Xuân Hạo (1998, 2000, 2002), Nguyễn Đức Dân (1996, 1998), Nguyễn Ngọc Thanh (2000), Phan Thị Minh Thuý (2002, 2003), Phạm Quang Trường (2002, 2003), Do-Hurinville Danh Thành (2004).
    • Nhóm có cách kiến giải riêng: Đinh Văn Đức (1985, 2001) gắn thời với nghĩa của câu và phủ nhận phạm trù thể hình thái; Hoàng Tuệ (1988) cho rằng tiếng Việt không có phạm trù thời và thể.
Nhóm quan điểm Tác giả tiêu biểu Luận điểm chính về thời-thể
Có cả thời và thể Phan Khôi (1955), Trương Văn Chình & Nguyễn Hiến Lê (1963), V. Panfilov (1993), Nguyễn Văn Thành (1992), Nguyễn Minh Thuyết (1995) Tiếng Việt biểu hiện thời-thể bằng phó từ/hư từ chuyên biệt; phân biệt thời tuyệt đối và tương đối.
Chỉ có thể, không có thời Cao Xuân Hạo (1998, 2002), Nguyễn Đức Dân (1996), Phan Thị Minh Thuý (2002), Do-Hurinville Danh Thành (2004) Tiếng Việt không bắt buộc ngữ pháp hóa định vị thời gian; các từ đã, đang, sẽ biểu thị thể hoặc tình thái.
Không có cả thời và thể Hoàng Tuệ (1988), M. Grammông & Lê Quang Trinh (1911) Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, không có hình thức ngữ pháp đặc biệt biểu thị thời và thể.
Gắn thời với cả câu Đinh Văn Đức (1985, 2001) Thời gắn với nghĩa của cả câu; động từ có kết trị từ vựng - ngữ pháp diễn đạt tiến trình chứ không có phạm trù thể hình thái kiểu châu Âu.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là khắc phục sự phân tán trong các mô tả trước đó; phân tích bản chất của hệ thống phó từ thời-thể tiếng Việt dựa trên việc tích hợp ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học; đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cách tri nhận thời gian của người Việt với cơ chế vận hành của các chỉ tố đã, đang, sẽ, sắp, từng, chưa, vừa, mới và chỉ tố zero.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng

  • Thời gian và sự thể hiện trong ngôn ngữ: Phân biệt thời gian khách quan/siêu ngôn ngữ (metalinguistic tense) và thời gian ngữ pháp hóa/thời gian ngôn ngữ (language's tense) theo J. Lyons. Khái niệm tính hình tuyến của ký hiệu ngôn ngữ theo F. Saussure (1916).
  • Lý thuyết chỉ xuất thời gian (Deixis/Trực chỉ): Vận dụng mô hình tham tố của Reichenbach (thời điểm phát ngôn $S$, thời điểm quy chiếu $R$, thời điểm sự kiện $E$, hướng đi trước/trùng hợp/đi sau, khoảng cách xa/gần). Dẫn dụng các quan điểm của J. Lyons, G. Yule, Đỗ Hữu Châu và Cao Xuân Hạo về tính trực chỉ của phạm trù thời.
  • Phạm trù thời (Tense, Temps): Quan niệm của V. Kasevich (1977), B. Comrie (1978, 1985), W. Frawley (1992), V. Panfilov (1993), Asher (1994) và Nguyễn Minh Thuyết (1998). Phân biệt:
    • Thời tuyệt đối: Đối chiếu thời gian diễn ra sự kiện ($E$) với thời điểm phát ngôn ($S$). Gồm Hiện tại tuyệt đối ($E=S$), Quá khứ tuyệt đối ($E<S$), Tương lai tuyệt đối ($E>S$).
    • Thời tương đối: Đối chiếu thời gian diễn ra sự kiện ($E$) với thời điểm quy chiếu ($R$). Gồm Hiện tại tương đối ($E=R$), Quá khứ tương đối ($E<R$), Tương lai tương đối ($E>R$).
  • Phạm trù thể (Aspect, Mode): Thể là cấu trúc thời gian bên trong của sự tình (situation-internal time), phân biệt với thời là cấu trúc ngoại tại (situation-external time) theo B. Comrie (1976). Vận dụng khung phân loại thể của W. Frawley (1992) gồm 6 loại chính yếu (perfective/imperfective, telic/atelic, durative/punctual, iterative/semelfactive, progressive, habitual) và 5 loại thứ yếu (inceptive, terminative, prospective, retrospective, intensive). Phân biệt phạm trù thể với phương thức hành động (Aktionsart) theo V. Kasevich (1977) và V. Panfilov (1993).
  • Khung phân tích tình thái (Modality): Xuất phát từ phân biệt dictum và modus. Luận án tiếp thu cách phân định của Lê Đông & Nguyễn Văn Hiệp (2003) và lựa chọn quan niệm hẹp về tình thái: gồm tình thái tại lời (hành động tại lời) và tình thái của lời được phát ngôn (đánh giá, cam kết, thái độ của người nói), thuộc bình diện ngữ dụng học. Thời và thể phản ánh thuộc tính bản thể của sự tình, thuộc bình diện nghĩa học khách quan.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Phương pháp nghiên cứu cơ bản, triển khai qua nhiều cấp độ từ thấp đến cao.
  • Phương pháp điều tra ngôn ngữ: Sử dụng phiếu điều tra để thu thập, tập hợp, thống kê và phân loại sơ bộ ngữ liệu thực tế.
  • Phương pháp phân tích cấu trúc: Phân tích câu kết hợp chặt chẽ ba bình diện kết học (cú pháp), nghĩa học (ngữ nghĩa) và dụng học (ngữ dụng).
  • Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Khảo sát vị trí và chức năng của các phó từ trong chỉnh thể đoạn văn và hoạt động hội thoại (người nói, người nghe, đích giao tiếp).
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh đối chiếu cơ chế biểu hiện ý nghĩa thời-thể của tiếng Việt với các ngôn ngữ biến hình Ấn - Âu điển hình (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga).

Nguồn ngữ liệu

Ngữ liệu của luận án được trích xuất từ hai nguồn chính:

  1. Văn bản viết thuộc nhiều phong cách chức năng: tác phẩm văn học (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết), văn bản chính luận, báo chí, văn bản hành chính - công vụ.
  2. Lời ăn tiếng nói hằng ngày được ghi chép trực tiếp và kết quả điều tra xã hội học ngôn ngữ trên đối tượng sinh viên sư phạm.
  3. Ngữ liệu dịch thuật văn học song ngữ Anh - Việt: tác phẩm Love Story của Erich Segal và Romeo and Juliet của William Shakespeare.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa các tiền đề lý thuyết về thời gian, chỉ xuất, phạm trù ngữ pháp, phạm trù thời, phạm trù thể và mối quan hệ giữa bộ ba thời - thể - tình thái. Luận án làm rõ bản chất trực chỉ của thời (quy chiếu ngoại tại gắn với điểm mốc) đối lập với tính phi trực chỉ của thể (cấu trúc nội tại của sự tình). Dẫn dụng thống kê của Nguyễn Kim Thản cho thấy 88% câu tiếng Việt có vị ngữ là động từ, nhưng nhấn mạnh trong tiếng Việt, vị từ tính từ cũng có thể kết hợp với các chỉ tố thời gian (đã khoẻ, sẽ lớn). Luận án chấp nhận giải pháp phân tích của B. Comrie về thời tuyệt đối - tương đối và thống nhất sử dụng thuật ngữ ghép gạch nối "thời-thể" để phản ánh sự giao thoa ngữ nghĩa giữa hai phạm trù này trong tiếng Việt.

Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu thời-thể tiếng Việt

Chương 2 tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu từ thế kỷ XVII (Từ điển Alexandre de Rhodes 1651) qua ba giai đoạn. Tác giả phân tích sâu 7 vấn đề còn tranh cãi:

  • Tiếng Việt có hay không có phạm trù thời-thể;
  • Số lượng phân chia thời (tam phân: quá khứ - hiện tại - tương lai; lưỡng phân: tương lai / phi tương lai, quá khứ / phi quá khứ; hay chỉ có một thời);
  • Mối quan hệ giữa thời ngữ pháp và thời gian hiện thực;
  • Tính độc lập hay phụ thuộc của thời đối với thể và tình thái;
  • Phạm trù thời thuộc về động từ hay thuộc về vị ngữ;
  • Phương tiện biểu thị thời là từ vựng, ngữ pháp hay kết hợp;
  • Tính hệ thống của các phương tiện biểu thị thời.

Chương 3: Phó từ "đã" và các đơn vị tương đương

Chương 3 tập trung phân tích phó từ đã và các đơn vị cùng nhóm quá khứ:

  • Phân biệt phó từ đã chỉ thời-thể với tình thái từ đã đồng âm (như trong câu cầu khiến, biểu thị sự tạm gác lại hoặc thỏa hiệp).
  • Đánh giá các kiến giải: xác định đã vừa mang ý nghĩa định vị thời gian (sự kiện xảy ra trước mốc quy chiếu: quá khứ tuyệt đối hoặc quá khứ tương đối), vừa mang ý nghĩa thể (thể hoàn tất, thể dĩ thành), vừa có thể biểu hiện giá trị tình thái (xác thực tính, sự vượt trước kỳ vọng).
  • Xác lập cách tri nhận thời gian của người Việt qua từ đã và chỉ ra các quy tắc phân bố, kết hợp của đã trong cấu trúc vị ngữ.
  • Miêu tả đối chiếu đã với các phó từ tương đương: vừa, mới, vừa mới (chỉ quá khứ gần, sự việc vừa mới hoàn tất so với mốc) và phó từ từng (biểu thị thể kinh nghiệm, sự tình đã diễn ra trong quá khứ nhưng không còn tiếp diễn ở hiện tại).

Chương 4: Phó từ "đang" và đơn vị tương đương

Chương 4 khảo sát phó từ đang và chỉ tố zero (ø):

  • Phân biệt phó từ đang với các từ đồng âm (như danh từ đang trong phương ngữ hoặc tổ hợp khác).
  • Tổng hợp các khuynh hướng lý thuyết: đang biểu hiện thời hiện tại, đang biểu hiện thể tiếp diễn, và đang biểu hiện tích hợp cả thời và thể.
  • Miêu tả ngữ nghĩa của đang: biểu thị sự việc đang trong tiến trình vận động nội tại tại thời điểm quy chiếu (hiện tại tuyệt đối hoặc hiện tại tương đối), mang sắc thái nhấn mạnh tính tiếp diễn của sự tình.
  • Khảo sát quy tắc sử dụng đang trong các kiểu câu và phân tích mối quan hệ giữa đang với chỉ tố zero (ø) – hình thái không đánh dấu có tần số xuất hiện cao trong khung thời gian hiện tại của tiếng Việt.

Chương 5: Phó từ "sẽ" và các đơn vị tương đương

Chương 5 phân tích phó từ sẽ và nhóm phó từ chỉ sự việc chưa diễn ra:

  • Phân biệt phó từ sẽ với các từ đồng âm (như tính từ sẽ trong nói sẽ).
  • Thảo luận các xu hướng: công nhận sẽ là chỉ tố thời tương lai (V. Panfilov) đối lập với quan điểm xem sẽ thuần túy là chỉ tố tình thái/thức phi thực hữu (Cao Xuân Hạo).
  • Phân tích vai trò đánh dấu thời tương lai của sẽ thông qua khảo sát ngữ liệu thực tế, phân tích đối chiếu ngữ liệu dịch thuật tương lai tiếng Anh sang tiếng Việt (will/shall), và phân tích hiện tượng sử dụng sẽ ngay cả trong ngữ cảnh đã có trạng ngữ chỉ thời gian tương lai.
  • Miêu tả ngữ nghĩa và quy tắc sử dụng của sẽ trên cả ba bình diện: thời (sự kiện sau mốc quy chiếu), thể (tiến trình hướng tới tương lai), tình thái (dự báo, cam kết, ý chí).
  • Miêu tả đối chiếu sẽ với các đơn vị tương đương: phó từ sắp (thể trông đợi, prospective aspect – tiến sát điểm bắt đầu của sự kiện) và phó từ chưa (biểu thị sự tình chưa xảy ra tính đến thời điểm mốc nhưng hàm ý khả năng sẽ xảy ra).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các kết quả và đóng góp mới trên hai phương diện:

Đóng góp về mặt lý luận

  • Góp phần làm rõ chức năng của nhóm phó từ biểu hiện các ý nghĩa liên quan đến thời gian trong tiếng Việt trên cả ba bình diện: kết học (cú pháp), nghĩa học (ngữ nghĩa) và dụng học (ngữ dụng).
  • Góp phần giải quyết vấn đề thời và thể của tiếng Việt với tư cách là những phạm trù ngữ pháp, khẳng định tính đặc thù của ngôn ngữ không biến hình qua cơ chế hoạt động của hệ thống hư từ/phó từ chuyên biệt.
  • Xây dựng hai sơ đồ hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu (trình bày tại phần Kết luận của luận án) nhằm mô hình hóa toàn bộ hệ thống phó từ thời-thể tiếng Việt dựa trên sự kết hợp giữa các trục đối lập thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai), các kiểu ý nghĩa thể (hoàn thành, tiếp diễn, trông đợi, kinh nghiệm...) và các giá trị tình thái liên quan.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác biên soạn sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy tiếng Việt, đặc biệt là tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài về hệ thống phó từ chỉ thời, thể.
  • Đề xuất các căn cứ ngữ pháp học và ngữ dụng học phục vụ công tác đối chiếu ngôn ngữ và dịch thuật song ngữ (Việt - Anh, Việt - Pháp, Việt - Nga), khắc phục lỗi dịch tương đương máy móc giữa các thì ngữ pháp Ấn - Âu và các phó từ tiếng Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án xác định các giới hạn nghiên cứu cụ thể:

  • Luận án không đi sâu vào việc khảo sát toàn bộ các phương tiện từ vựng biểu thị thời gian (như hệ thống danh từ chỉ thời gian, trạng ngữ thời gian) và các cơ chế suy luận logic - ngữ cảnh thuần túy, do các phương tiện này thuộc bình diện từ vựng học hoặc ngữ dụng học đại cương mà bất kỳ ngôn ngữ nào cũng sử dụng.
  • Luận án tập trung miêu tả chi tiết ba phó từ hạt nhân (đã, đang, sẽ) và mở rộng ra 5 đơn vị tương đương trực tiếp (vừa, mới, từng, sắp, chưa) cùng chỉ tố zero (ø), chưa bao quát toàn bộ các phó từ đứng trước vị từ khác (đều, cũng, vẫn, lại, còn...) do các từ này không đáp ứng đầy đủ tiêu chí thao tác của phó từ thời-thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở là tiếp tục mở rộng phạm vi kiểm chứng trên các ngữ liệu khẩu ngữ đa dạng hơn và nghiên cứu sâu hơn về sự kết hợp đồng thời của các phó từ thời-thể trong các cấu trúc vị ngữ phức tạp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ học, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu và Việt ngữ học: tham khảo khung lý thuyết tích hợp (kết học - nghĩa học - dụng học), lịch sử tổng quan các trường phái thời-thể tiếng Việt tại Chương 1 và Chương 2.
  • Giảng viên giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: tham khảo các quy tắc miêu tả ngữ nghĩa, điều kiện phân bố và cách sử dụng cụ thể của từng phó từ đã, đang, sẽ, sắp, từng, chưa, vừa, mới tại Chương 3, Chương 4 và Chương 5 để giải thích chính xác các trường hợp người học ngoại quốc thắc mắc.
  • Biên dịch viên và giảng viên ngoại ngữ (Anh, Nga, Pháp): tham khảo phần phân tích so sánh - đối chiếu ngữ liệu song ngữ để nắm bắt quy tắc chuyển dịch thời-thể giữa ngôn ngữ biến hình và tiếng Việt, tránh lối dịch áp đặt cơ học.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án loại trừ các từ như "đều", "cũng", "vẫn", "lại", "còn" ra khỏi phạm vi khảo sát phó từ thời-thể?
Luận án xác định chức năng cơ bản của nhóm từ này không phải là định vị sự tình trong thời gian. Đồng thời, chúng không thoả mãn hai điều kiện bắt buộc của phó từ thời-thể trong luận án: (1) Không có khả năng trả lời câu hỏi: đã P chưa?, và (2) Không có khả năng thay thế bằng các phó từ thời-thể khác.

2. Luận án giải quyết mối quan hệ giữa ba phạm trù Thời, Thể và Tình thái như thế nào?
Luận án sử dụng thuật ngữ gạch nối "thời-thể" để biểu thị sự gắn bó chặt chẽ của hai phạm trù này trong tiếng Việt. Luận án chọn quan niệm hẹp về tình thái (thuộc bình diện ngữ dụng học), qua đó xác định thời và thể phản ánh thuộc tính bản thể khách quan của hoàn cảnh sự vật (thuộc bình diện nghĩa học), có mối liên hệ mật thiết với tình thái chứ không bị đồng nhất hay hòa tan hoàn toàn vào tình thái.

3. Theo luận án, điểm khác biệt căn bản giữa phạm trù thời và phạm trù thể là gì?
Thời là phạm trù có tính trực chỉ (deictic), định vị sự tình trong thời gian bằng cách quy chiếu thời điểm diễn ra sự kiện ($E$) với thời điểm phát ngôn ($S$) hoặc thời điểm mốc ($R$) bên ngoài sự tình (situation-external time). Thể là phạm trù phi trực chỉ, biểu thị cách thức nhìn nhận cấu trúc thời gian bên trong của chính sự tình đó (situation-internal time), ví dụ sự tình kéo dài hay không kéo dài, hoàn thành hay chưa hoàn thành, tiếp diễn hay nhất cố.

4. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ những nguồn nào?
Ngữ liệu được thu thập từ hai nguồn chính: các văn bản viết đa phong cách chức năng (thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, báo chí, chính luận, công vụ); khẩu ngữ hội thoại hằng ngày kết hợp phiếu điều tra xã hội học ngôn ngữ trên nhóm đối tượng sinh viên sư phạm; cùng ngữ liệu song ngữ Anh - Việt trích từ hai tác phẩm Love Story (E. Segal) và Romeo and Juliet (W. Shakespeare).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Kim Phượng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phạm trù thời-thể trong tiếng Việt trên cơ sở kết hợp lý luận ngôn ngữ học hiện đại và ngữ liệu thực tế tiếng Việt. Bằng việc phối hợp ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, tác giả đã miêu tả chi tiết hệ thống phó từ đã, đang, sẽ, sắp, từng, chưa, vừa, mới và chỉ tố zero. Kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết các tranh luận học thuật kéo dài về bản chất ngữ pháp của thời-thể tiếng Việt, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho công tác giảng dạy ngôn ngữ và biên dịch thuật ngữ học thuật.