Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục thường xuyên là thành tố quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò nền tảng trong việc hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời. Mạng lưới Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp quận, huyện tại Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc về quy mô kể từ đầu thập niên 1990. Năm học 1992-1993, cả nước mới chỉ có 30 trung tâm, nhưng chỉ sau một năm học đã tăng nhanh lên 160 đơn vị và đạt mốc 415 cơ sở vào năm 2000. Đến năm học 2006-2007, toàn hệ thống đã phát triển lên 573 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện, phục vụ hàng trăm nghìn lượt người học mỗi năm. Tuy nhiên, tại thời điểm khảo sát, cả nước vẫn còn 8 tỉnh và hơn 100 huyện chưa có trung tâm, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đạt mục tiêu 100% quận, huyện có cơ sở giáo dục thường xuyên vào năm 2010 theo định hướng phát triển giáo dục quốc gia.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là sự chuyển dịch mô hình tổ chức trong bối cảnh mới. Các trung tâm cấp huyện trước đây chủ yếu thực hiện chức năng đơn nhất là dạy bổ túc văn hóa nhằm giải quyết hậu quả khủng hoảng giáo dục thập niên 1980. Bước sang thế kỷ XXI, sự bùng nổ của công nghệ thông tin cùng sự ra đời của hàng nghìn Trung tâm học tập cộng đồng cấp xã đã làm thay đổi căn bản phân công lao động sư phạm.

Mục tiêu của luận văn là xác lập cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng hoạt động tại 6 tỉnh đại diện gồm Hà Nội, Ninh Bình, Lào Cai, Thừa Thiên Huế, Long An và Cao Bằng trong giai đoạn 2006-2008; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện mô hình trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện đa chức năng, đóng vai trò trung tâm nguồn địa phương đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược giúp tối ưu hóa nguồn lực tài chính công, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ngắn hạn thêm 20-25% và chuẩn hóa năng lực đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết hệ thống trong quản lý giáo dục và khung lý thuyết về giáo dục suốt đời được UNESCO khẳng định qua Tuyên bố Dakar năm 2000. Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa trên lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức nhằm xác định vị trí của giáo dục không chính quy đối với tăng trưởng kinh tế xã hội.

Về mặt khái niệm, đề tài làm rõ 4 thuật ngữ cốt lõi: Giáo dục không chính quy là các hoạt động giáo dục có tổ chức diễn ra ngoài hệ thống chính quy; Giáo dục thường xuyên là quá trình tiếp nối sau giáo dục cơ bản nhằm duy trì cơ hội học tập suốt đời; Mô hình trung tâm giáo dục thường xuyên là cấu trúc tích hợp giữa chức năng, nhiệm vụ, cơ chế vận hành và nguồn lực; Hoàn thiện mô hình là quá trình bổ sung, điều chỉnh các yếu tố cấu thành để thích ứng với bối cảnh kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.

Nghiên cứu tham chiếu sâu rộng khung pháp lý tại Luật Giáo dục 2005, Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010, Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện, cùng Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT về Trung tâm học tập cộng đồng. Đồng thời, tác giả đối chuẩn kinh nghiệm quốc tế từ 4 quốc gia tiêu biểu: Thái Lan với hệ thống 7 trung tâm nguồn khu vực quản lý 858 trung tâm huyện và hơn 7.000 trung tâm học tập cộng đồng; Nhật Bản với mạng lưới Kominkan đạt tỷ lệ trung bình 2 trung tâm trên mỗi trường trung học phổ thông; Ấn Độ với mô hình trung tâm liên kết Nodal phục vụ cụm dân cư 1.500 đến 2.000 người; và Myanmar với bước phát triển từ 7 mô hình thí điểm năm 1994 tăng lên 40 cơ sở sau 2 năm triển khai.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đa dạng các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 6/2006 đến tháng 6/2008. Khảo sát thực địa được triển khai tại 6 tỉnh thành đại diện cho 4 vùng kinh tế sinh thái đặc trưng của Việt Nam: Đồng bằng sông Hồng, Miền núi phía Bắc, Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long.

Cỡ mẫu khảo sát thực nghiệm gồm 180 phiếu trưng cầu ý kiến từ các cán bộ quản lý thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo Phòng Giáo dục, Giám đốc trung tâm và hơn 220 giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các cơ sở giáo dục thường xuyên huyện. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ các đặc thù về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế và trình độ phát triển dân trí giữa vùng thuận lợi và vùng sâu, vùng xa.

Phương pháp phân tích hồi cứu văn bản kết hợp phân tích thống kê mô tả và đối sánh định lượng được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc chỉ ra các khoảng trống thể chế, đo lường mức độ đáp ứng của cơ sở vật chất, đồng thời lượng hóa nhu cầu học tập thực tế của các nhóm đối tượng lao động. Timeline nghiên cứu được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 12/2006 hoàn thiện khung lý luận và dịch thuật tài liệu quốc tế; giai đoạn từ tháng 8/2006 đến tháng 4/2007 tiến hành điều tra khảo sát thực địa; giai đoạn từ tháng 1/2007 đến tháng 3/2008 tổ chức hội thảo chuyên gia, xử lý dữ liệu và xây dựng hệ thống giải pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ gia tăng số lượng cơ sở giáo dục thường xuyên cấp huyện diễn ra nhanh chóng nhưng phân bổ không đồng đều. Mạng lưới đã tăng trưởng mạnh từ 30 cơ sở năm 1992 lên 573 cơ sở vào năm 2007, tương đương mức tăng hơn 19 lần sau 15 năm. Tuy vậy, khoảng 14% số huyện trên toàn quốc vẫn trắng trung tâm, tập trung chủ yếu tại các địa bàn miền núi khó khăn.

Thứ hai, có sự chuyển dịch rõ nét về nhu cầu học tập và đối tượng phục vụ. Tỷ lệ học viên theo học các lớp bổ túc văn hóa đơn thuần giảm khoảng 18% so với giai đoạn trước, trong khi nhu cầu học tin học ứng dụng, ngoại ngữ và đào tạo nghề ngắn hạn tăng vọt chiếm hơn 65% tổng số học viên đăng ký mới tại các trung tâm thuộc khu vực đồng bằng và đô thị.

Thứ ba, sự phân định chức năng giữa cấp huyện và cấp xã xuất hiện sự chồng chéo nhưng chưa tận dụng được sức mạnh liên kết. Việc thành lập hơn 7.000 Trung tâm học tập cộng đồng cấp xã đã tiếp quản phần lớn nhiệm vụ xóa mù chữ và phổ cập tiểu học, khiến khoảng 40% trung tâm cấp huyện lúng túng trong việc tái định vị chức năng, dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu chỉ tiêu đào tạo.

Thứ tư, nguồn lực cơ sở vật chất và chất lượng đội ngũ còn nhiều bất cập lớn. Khảo sát thực tế chỉ ra hơn 60% trung tâm huyện chưa có đủ phòng học bộ môn chuyên biệt và xưởng thực hành nghề đạt chuẩn; tỷ lệ giáo viên cơ hữu trong biên chế chỉ chiếm khoảng 45% tổng số giảng viên giảng dạy, còn lại 55% phụ thuộc vào hợp đồng thỉnh giảng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và chất lượng đào tạo.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự chậm trễ trong việc ban hành quy chế phân cấp tài chính và cơ chế quản lý liên ngành giữa ngành giáo dục với chính quyền cấp huyện. Hơn 80% kinh phí hoạt động của các trung tâm vẫn dựa vào ngân sách phân bổ theo định mức hành chính, trong khi nguồn thu từ dịch vụ đào tạo liên kết chỉ đóng góp dưới 20%.

So sánh với mô hình của Thái Lan và Nhật Bản, nơi các trung tâm cấp huyện giữ vai trò trung tâm nguồn chuyên môn, cung cấp tài liệu, bồi dưỡng giảng viên và chuyển giao công nghệ cho cơ sở cấp xã, mô hình tại Việt Nam vẫn bị phân mảnh. Các dữ liệu này có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ phát triển cơ sở mạng lưới giai đoạn 1992-2007 và bảng ma trận đối sánh chức năng giữa trung tâm cấp huyện với trung tâm học tập cộng đồng cấp xã theo 5 tiêu chí: quản lý tổ chức, cơ cấu nhân sự, khung chương trình, trang thiết bị và cơ chế tài chính.

Việc chuyển đổi mô hình trung tâm cấp huyện thành trung tâm giáo dục thường xuyên đa chức năng mang ý nghĩa quyết định, giúp thiết lập cầu nối chuyển giao tri thức từ các trường đại học, cao đẳng xuống tận địa bàn dân cư, tạo cơ hội học tập bình đẳng cho mọi tầng lớp lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát và xu hướng phát triển giáo dục đến năm 2020, đề tài đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện toàn diện mô hình Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện:

  1. Hoàn thiện thể chế pháp lý và trao quyền tự chủ: Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chủ trì điều chỉnh Quy chế tổ chức hoạt động, xác định rõ vị thế pháp lý của trung tâm là đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Giao quyền tự chủ tài chính linh hoạt cho 100% Giám đốc trung tâm trước năm 2010, cho phép mở rộng các hợp đồng đào tạo dịch vụ theo nhu cầu xã hội.

  2. Tái cấu trúc chức năng theo hướng trung tâm nguồn đa năng: Ủy ban nhân dân các tỉnh và Sở Giáo dục và Đào tạo tiến hành chuyển đổi công năng của trung tâm huyện thành đầu mối kỹ thuật, thực hiện 4 nhiệm vụ cốt lõi: giảng dạy chương trình bổ túc trung học; đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật; liên kết đào tạo ngoại ngữ, tin học chuẩn quốc gia; chỉ đạo chuyên môn, tập huấn giảng viên và phát triển học liệu địa phương cho 100% Trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn trong giai đoạn 2008-2015.

  3. Chuẩn hóa và phát triển đội ngũ giảng viên: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các trường đại học sư phạm xây dựng khung bồi dưỡng chuyên biệt về phương pháp giáo dục người lớn; phấn đấu nâng tỷ lệ giáo viên cơ hữu đạt chuẩn sư phạm chính quy lên tối thiểu 70% vào năm 2012; tổ chức đánh giá định kỳ kỹ năng thực hành nghề cho 100% giáo viên kỹ thuật.

  4. Tăng cường đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất: Ủy ban nhân dân cấp huyện ưu tiên bố trí quỹ đất và trích tối thiểu 15-20% ngân sách chi sự nghiệp giáo dục hàng năm để xây dựng phòng thí nghiệm, xưởng thực hành nghề công nghệ cao và phòng máy tính nối mạng internet băng thông rộng tại tất cả các trung tâm huyện trước năm 2012.

  5. Đẩy mạnh công tác truyền thông và xã hội hóa: Các cấp chính quyền địa phương phối hợp với Hội Khuyến học triển khai chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng về học tập suốt đời, phấn đấu huy động các nguồn tài trợ xã hội đóng góp từ 25-30% tổng chi phí đầu tư thiết bị đào tạo nghề trong lộ trình đến năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cán bộ quản lý hoạch định chính sách tại Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các Sở Giáo dục và Đào tạo: Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học phục vụ việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, quy chế tổ chức trung tâm thường xuyên và xây dựng chiến lược phát triển mạng lưới giáo dục không chính quy đến năm 2020.

  2. Ban Giám đốc và đội ngũ cán bộ quản lý Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện: Sử dụng trực tiếp khung giải pháp tổ chức bộ máy, phương án phân bổ nguồn thu tự chủ, cách thức thiết kế chương trình đào tạo nghề linh hoạt và mô hình quản lý liên kết với Trung tâm học tập cộng đồng cấp xã.

  3. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý giáo dục, Giáo dục học: Khai thác phương pháp luận khảo sát thực địa, khung lý thuyết phân tích đối chuẩn quốc tế về giáo dục người lớn và hệ thống khái niệm chuẩn hóa trong giáo dục không chính quy làm tư liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu.

  4. Lãnh đạo chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý lao động, việc làm cấp quận, huyện: Tham khảo mô hình dự báo nhu cầu học tập và đào tạo nghề ngắn hạn nhằm xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ trực tiếp mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao mô hình Trung tâm Giáo dục thường xuyên cấp huyện bắt buộc phải chuyển sang mô hình đa chức năng? Vì mô hình dạy bổ túc văn hóa đơn chức năng trước đây không còn phù hợp với bối cảnh kinh tế tri thức. Khi mạng lưới học tập cộng đồng cấp xã đã đảm nhận nhiệm vụ xóa mù chữ, trung tâm cấp huyện phải mở rộng sang đào tạo nghề, tin học, ngoại ngữ và làm trung tâm nguồn hỗ trợ học liệu địa phương cho các xã lân cận để tối ưu hóa nguồn lực.

2. Điểm khác biệt cốt lõi giữa Trung tâm cấp huyện và Trung tâm học tập cộng đồng cấp xã là gì? Trung tâm cấp huyện là cơ sở sự nghiệp công lập có tư cách pháp nhân, biên chế giáo viên cơ hữu và tài khoản riêng do Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý chuyên môn. Trong khi đó, trung tâm cấp xã do Ủy ban nhân dân xã trực tiếp quản lý, hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm và chủ yếu phục vụ nhu cầu học tập ngắn hạn của cộng đồng dân cư trong xã.

3. Kinh nghiệm quốc tế nào có giá trị ứng dụng cao nhất cho Việt Nam trong nghiên cứu này? Mô hình tổ chức mạng lưới trung tâm nguồn cấp vùng và cấp huyện của Thái Lan với 858 cơ sở huyện điều phối học liệu và chuyên môn cho 7.000 trung tâm cấp xã là bài học thực tiễn phù hợp nhất giúp Việt Nam giải quyết triệt để bài toán chồng chéo chức năng và tối ưu hóa ngân sách đầu tư công.

4. Khó khăn lớn nhất trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tại các trung tâm huyện hiện nay là gì? Rào cản lớn nhất là tỷ lệ giáo viên cơ hữu đạt chuẩn phương pháp giáo dục người lớn còn thấp dưới 50% và hơn 60% cơ sở vật chất, xưởng thực hành nghề chưa đáp ứng được chuẩn kỹ thuật hiện đại, dẫn đến việc đào tạo nghề ngắn hạn chưa bám sát nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

5. Mục tiêu bao phủ 100% trung tâm cấp huyện có ý nghĩa thế nào đối với Đề án Xây dựng xã hội học tập? Việc hoàn thiện mạng lưới 573 cơ sở và phủ kín hơn 100 huyện còn lại trước năm 2010 là điều kiện tiên quyết đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục, tạo cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là lao động nông thôn và vùng đồng bào thiểu số, được tiếp cận quyền học tập suốt đời.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa toàn diện hệ thống khái niệm lý luận về giáo dục thường xuyên, mô hình tổ chức trung tâm cấp huyện và giáo dục không chính quy trong thế kỷ XXI.
  • Khảo sát thực chứng sâu rộng tại 6 tỉnh thành đại diện, chỉ ra sự tăng trưởng mạng lưới từ 30 cơ sở năm 1992 lên 573 cơ sở năm 2007 và làm rõ các bất cập về cơ chế tự chủ, nhân sự và cơ sở vật chất.
  • Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan, Nhật Bản, Ấn Độ và Myanmar để định hình cấu trúc trung tâm giáo dục thường xuyên đa chức năng phù hợp điều kiện Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 5 giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm hoàn thiện mô hình quản lý, trao quyền tự chủ tài chính và nâng chuẩn đội ngũ giảng viên cơ hữu lên trên 70%.
  • Xác lập lộ trình chuyển giao chuyên môn giữa trung tâm cấp huyện và mạng lưới học tập cộng đồng cấp xã, góp phần hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 và tầm nhìn 2020.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp một bản thiết kế mô hình tổ chức hoàn chỉnh, chuyển đổi căn bản các trung tâm cấp huyện từ cơ sở dạy văn hóa bổ túc sang trung tâm tài nguyên học tập đa năng của địa phương. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2008 đến năm 2015, các cơ quan quản lý cần khẩn trương thể chế hóa các đề xuất vào văn bản quy phạm pháp luật, thí điểm mô hình tự chủ tài chính tại các đô thị lớn trước khi nhân rộng toàn quốc. Quý độc giả, các nhà quản lý và nghiên cứu sinh quan tâm có thể khai thác trực tiếp luận văn để phát triển các đề tài ứng dụng quản lý giáo dục chuyên sâu tại địa phương.