CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. LÝ LUẬN VE SU’ GAN KET CUA NHAN VIÊN TRONG TỎ CHỨC 1. Khái niệm Kahn (1990) định nghĩa: sự gắn kết nhân viên là "sự đóng góp của các thành viên trong công việc đói với tỏ chức, khi gắn kết, họ có thể thể hiện bản thân về sức lực, trí tuệ và cảm xúc khi thực hiện công việc đó”. Sự gắn kết xảy ra khi các cá nhân được kết nỗi cảm xúc với người khác và nhận thức được công việc.
Nhân viên bị cuỗn theo cảm xúc vả nhận thức. khi họ biết họ mong đợi, được mong đợi gì và họ cẩn làm gì để đạt được điều đỏ, nhận thức rằng họ là một phẫn của tổ chức, có ý nghĩa với đồng nghiệp, họ được tin tưởng và có cơ hội để cải thiện vả phát triển. Robinson, Perryman & Hayday (2004) “Sự gắn kết của nhân viên được. định nghĩa là một thái độ tích cực mà nhân viên đối với tổ chức và tủy thuộc vào mức độ hỗ trợ mà họ nhân được từ tổ chức” Saks (2006) định nghĩa sự gắn kết: “Là một thái độ tích cực của nhân viên đổi với giá trị và hoạt động của tổ chức.
Nhân viên nhận thức được bồi cảnh kinh doanh và làm việc với các đồng nghiệp để cải thiện hiệu suất trong công việc vi lợi ích của tổ chức. Tổ chức phải có cách thức để phát triển và nuôi dưỡng sự gắn kết, vì sự găn kết đòi hỏi mối quan hệ hai chiều giữa nhân viễn và tô chức"" Có rất nhiều ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu trong định nghĩa. cũng như đo lường sự gắn kết của nhãn viên với tổ chức (Organizaion Commitment). Tuy nhiên, các ý kiến đều khang định nhân tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp đó là sự gắn bó của nhân viên đối với doanh nghiệp.
Giắn kết của người lao động xảy ra khi nhãn viên thể hiện sự quan tim đến công việc của họ, và sẵn sàng thực hiện một nỗ lực tủy ÿ thêm đề có được kết quả yêu câu. Schaufeli và Bakker (2001) cho rằng gắn kết công việc được định nghĩa là trạng thái tình thần tích cực, thỏa mãn, có liên quan đến công việc được đặc trưng bởi các thuộc tính sự hăng hái. công hiển và say mê. Gắn kết công việc bao hảm cả những trạng thái tỉnh thần thể hiện về suy nghĩ lời nói và hành động của nhân viên với công việc: đó là sự để tâm vào công việc, tận tụy với công việc, làm việc với niềm đam mê và nhiệt thành, cống hiển cho công việc, nỗ lực và đây sinh lực làm việc.
Người lao động tham gia là người biểu lộ tình cảm và sự cống hiển cho công việc họ thực hiện mà không quan tâm đặc biệt đến tô chức trừ khi người cung cấp cơ hội thực hiện công việc. Gan kết của người lao động là mức độ tham gia của nhân viên trong. việc thực hiện các hoạt động kinh doanh. Thái đô, niềm tin và kinh nghiệm của một người quyết định mức độ tham gia vào một nhiệm vụ cu thé.
Do đó, các nhà quản trị có trách nhiệm rất lớn trong việc kích thích những ham muốn nội tại của nhân viên trong một tổ chức để có được sự đóng góp tối đa. Theo Conferenee Board (2006)', sự tham gia của nhân viên như là một mức độ gắt + tình cảm tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân đối với tổ chức, công việc và đồng nghiệp của họ. Định nghĩa này đã được coi là một tiêu chuẩn toàn cầu được chấp nhận do các lý do: Có thể đo được mức độ năng lực của nhân viễn; tác động của nhà quản trị có thể được đo bằng những thành tưu về tổ chức; gắn kết của người lao động là một người có tham gia đây đủ và nhiệt tình về công việc của mình. Các doanh nghiệp để phát triển và duy tri cin người lao động, vì vậy một mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp và người lao động được thiết lập, đó là sự gắn kết.
Bên cạnh định nghĩa sự gắn kết với tổ chức, các tác giả Meyer và Allen (1991) còn xác định các thành phan cia sự gắn kết bao gồm: Gắn kết tình cảm, gắn kết tiếp diễn và gắn kết nghĩa vụ. Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau cũng như có nhiều cách đo. lường khác nhau về mức độ gắn bó của nhân viên đối với doanh nghiệp. Các thành phần của sự gắn kết với doanh nghiệp Có những định nghĩa khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu về sự gắn bó.
với doanh nghiệp, nên để đo lường khái niệm này sẽ có những thành phần khác nhau: Theo nghiên cứu của Meyer and Allen (1991) có 3 thành phân của sự gắn kết với tổ chức là: Sự gắn kết trên cơ sở tình cảm chính là cảm xúc sự gắn kết, đồng nhất cùng tô chức và nô lực thực hiện; Sự gắn kết để duy trì là việc người lao động cảm thấy sẽ mất mát khi rời khỏi tổ chức; và sự gắn kết vì đạo đức chính là cảm thấy rằng mình cần có nghĩa vụ tiếp tục công việc với tô chức. Tran Kim Dung và Abraham Morris (2005) cho rằng có 3 thành phần gồm: Nỗ lực, Tự hào và Trung Thành. Trong đó, nỗ lực chính là sự cổ gắng của người lao động để hoàn thành trách nhiệm được giao: tự hảo chính là cảm giác của người lao động khi được là thành viên của tổ chức và Trung thành chính là mong muốn gắn kết lâu dải với tổ chức của người lao động. Tầm quan trọng về sự gắn kết của người lao động Người lao động sẽ làm gì và sẽ lảm với thái độ như thế nào ở mỗi vị trí của họ, nhân tổ nào sẽ góp phần thúc đây năng suất làm việc và mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp vả cho chính nhân viên đó, vì vậy sự gắn kết của người lao động là một phần không thê thiếu được trong mỗi quan hệ giữa nhân viên và doanh nghiệp.
Purcell (2003) cho rằng, thái độ làm việc tự nguyện là lựa chọn thường có của người lao động ở cách họ thực hiện công việc, mức độ cố gắng, chú tâm, sáng tạo và sự hiệu quả trong công việc của họ. Thái độ đó có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Khi người nhân viên hải lòng và gắn bó với công việc của họ thì họ sẽ chủ động bỏ thêm công sức dé đặt được thành quả cao, đó là thái độ tích cực và ngược lại, nhân viên sẽ trì trệ trong công việc. Vì vậy, rất nhiều lợi ích của doanh nghiệp xuất phát từ sự gắn kết của người lao động.
Khi đã có gắn kết, nhân viên sẽ xem doanh nhiệp như một phần không thể thiểu của mình, họ sẽ làm việt hãng hái để hoàn thành công. việc được giao và là một trong những câu nối quan trọng giữa doanh nghiệp. với các tô chức ngoài doanh nghiệp. Các cách thức tạo sự gắn kết cho người lao động Theo Tran Thị Xuân Bình (2015), để tạo sự gắn kết cho người lao động.
bằng cách cải thiện bản chất công ví : nhắn mạnh: Động lực cơ bản từ công. việc cũng như mức độ gắn kết phụ thuộc vảo cách thức điều hành công việc sao cho người lao động được quyên phản hôi ý kiến, được tự do sử dụng khả năng của chính họ. Qua đó, ta nhận ra rằng, nên thiết lập một hệ thống quản lý con người và công việc mới dựa trên những nguyên lý đã nêu. Bênh cạnh đó, các nhân sự ở các cấp quản lý, điều hành phải được đảo tạo về nhiều kỹ năng khác nhau, đặc biệt là kỹ năng lãnh đạo tương ứng với từng tính chất công việc.
'Việc quản lý tốt sẽ giúp cho người lao động ngày cảng thêm gắn kết hơn. Để tăng cường mức độ gắn kết của nhân viên, doanh nghiệp nên cái thiện môi trường làm việc để cỏ thể phát huy thái độ làm việc tích cực của nhân viên, tạo động lực cho nhân viên hãng hái làm việc, yêu công việc và không cảm thấy bị áp lực. Cần nên quan tâm đến văn hóa doanh nghiệp, sự cân bằng giữa công. việc, cuộc sống và điều kiện làm việc.
Người quản lý nên tạo ra mối liên hệ tốt giữa các nhân viên với nhau, đối xử công bằng với mọi người, tôn trọng ý kiến và đóng góp của nhân viên. vả luôn luôn tạo cho nhân viên cơ hội để phát triển suy nghĩ vả năng lực của họ. Nâng cao khả năng lãnh đạo, trao quyền tự quyết cho nhân viên cũng sẽ tạo nên sự gắn kết cho người lạo động trong tô chức. CAC NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN SU’ GAN KET CUA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TÔ CHỨC Hiện nay, trong nước và trên thể giới đã có nhiễu tác giá nghiên cứu về vấn đề gắn kết của người lao động trong tô chức.
Tiêu biểu các công trình nghiên cứu đó là: 1. Các nghiên cứu trên thế giới: Nghiên cứu của Viện Quan hệ lao động New York (The Labor Relations Institutes of New York) năm 1946 (Đoàn Thị Trang Hiển, 2012) trong đó đưa ra 10 nhân tổ khuyến khích nhân viên (Hình 1.1) như: Sự đánh giá đây đủ công việc đã làm; cảm nhận bổn phận cá nhân đối với tô chức; Sự đồng cảm với cá nhân người lao động. và cuối cùng lả Kỷ luật làm việc đúng mức. Lý thuyết của Becker, 1960 đã cho rằng sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là kết quả của mỗi quan hệ trao đôi giữa cá nhân người lao động và tổ 10 chức.
Bên cạnh đó, Becker còn cho rằng người lao động gắn kết với tổ chức có thể là đo người lao động còn quan tâm đến một vấn để khác mà không liên quan đến tổ chức. Vấn để quan tâm này có thể là giả trị của cá nhân, vị trí của nghê nghiệp hay những nhân tổ khác. Becker xác định có 3 thành phần của sự gắn kết là: Các nhân tố nhân khâu, bối cảnh, và các nhân tố công việc. Mô hình nghiên cứu của Viện Quan hệ lao động New York (1946) Kết quả nghiên cứu của Becker: *On Becker's theory of commitment” được thẻ hiện tại Hình 2.2 thể hiên các yếu tố tác động đến sự gắn kết đó là: Tuổi tác, bổi cảnh và công việc.
Trong yếu tố bối cảnh có 2 yếu tổ là trình độ tay nghề và mức độ phục vụ trong công ty ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên; về yếu tố công việc có sự tác động lớn đến sự gắn kết của người lao. động với công ty. Trong yêu tổ công việc có 8 yếu tô ảnh hướng tới sự gắn kết đó là: Cơ hội nói chuyện với đồng nghiệp, suy nghĩ vẻ những điều khác, I c6 thoi gian nghi ngoi.