ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học (ĐDSH) là nền tảng cho sự sống còn, phát triển của loài ngƣời và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Nằm ở vùng Đông Nam Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nƣớc có tính ĐDSH cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, 2002). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu … của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về HST và các loài sinh vật. Tính đa dạng về hệ sinh thái (HST) bao gồm rừng, biển, đất ngập nƣớc, sự phong phú và giàu có về các loài và nguồn gen sinh vật.
Tuy vậy, hiện nay tài nguyên ĐDSH của Việt Nam liên tục bị suy giảm và suy thoái dƣới áp lực của gia tăng dân số, khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và sự đánh đổi với ƣu tiên phát triển kinh tế. Hiện nay, HST rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng và ngày càng bị thu hẹp đã làm cho nhiều loài động vật mất nơi cƣ trú và kiếm ăn trong số đó có nhiều loài chim cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng. Chim là một thành phần cấu tạo của HST và có vai trò quan trọng trong HST, đặc biệt là bảo vệ và đảm bảo cân bằng HST. Các nghiên cứu trƣớc đây về khu Hệ động vật tại Khu đề xuất Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Khe Nƣớc Trong, tỉnh Quảng Bình đã khẳng định nơi đây có Trĩ sao phân bố.
Tuy nhiên thông tin về hiện trạng và phân bố của loài còn thiếu hụt, chƣa có đủ cơ sở khoa học để triển khai các giải pháp bảo tồn quần thể loài. Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Khe Nƣớc Trong ở miền Trung Việt Nam chứa một khu hệ động vật đa dạng, phong phú. Khu đề xuất BTTN Khe Nƣớc Trong nằm ở huyện Lệ Thủy, phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình, giáp với biên giới Việt Nam - Lào và KBTTN Bắc Hƣớng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Khu vực này có diện tích 19.188 ha, bao gồm chủ yếu là rừng nhiệt đới thƣờng xanh nằm trong 1 vùng sinh thái Đất thấp miền Trung rộng lớn (khoảng 500.000 ha) kéo dài dọc biên giới Việt - Lào từ huyện Minh Hóa nối liền với các huyện Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình sang huyện Hƣớng Hóa tỉnh Quảng Trị.
Đây là khu vực có diện tích rừng tự nhiên trên đất thấp liên tục lớn nhất ở Việt Nam. Đặc biệt hơn, KBTTN đề xuất Khe Nƣớc Trong còn bảo tồn đƣợc một diện tích lớn kiểu rừng nhiệt đới ẩm thƣờng xanh nguyên sinh trên vùng đất thấp. Âm sinh học là một lĩnh vực khoa học liên ngành có liên quan đến sinh học và âm thanh đƣợc tạo ra bởi ảnh hƣởng đến các sinh vật sống. Nó thƣờng đề cập đến việc sản xuất, phân tán và tiếp nhận âm thanh của động vật kể cả con ngƣời (Oregonstate.
Mỗi loài động vật đều có một tiếng kêu riêng biệt, hơn nữa một loài cũng có thể có nhiều tiếng kêu khác nhau. Nghiên cứu về tiếng kêu sẽ đặt ra nhiều câu hỏi hay cho các nhà khoa học nhƣ: tiếng kêu của các loài có đặc điểm gì giống và khác nhau không? Chúng có ý nghĩa nhƣ thế nào trong đời sống của các loài? Cùng một loài ở các khu vực khác nhau thì tiếng kêu có khác nhau hay không?. Trĩ Sao là loài chim quý hiếm không những ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới có giá trị khoa học và kinh tế cao nên dễ bị săn bắt mạnh ngoài tự nhiên, dẫn đến ngày càng bị cạn kiệt. Hiện nay nghiên cứu về loài Trĩ sao còn khá ít và chƣa có nghiên cứu cụ thể nào về đặc điểm tiếng kêu của chúng.
Xuất phát từ thực tế trên để góp phần tạo cơ sở khoa học và phát triển thành phần loài của Trĩ sao đề tài đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu về sự có mặt và phân bố của loài Trĩ sao (Rheinardia ocellata) tại Khu đề xuất Bảo tồn Thiên nhiên Khe Nước Trong (Quảng Bình)”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Hệ thống phân loại Trĩ Sao (Rheinardia ocellata) đƣợc nằm trong hệ thống phân loại nhƣ sau: Giới (kingdom): Động vật (Animalia) Ngành (phylum): Động vật có dây sống (Chordata) Lớp (class): Chim (Aves) Bộ (ordo): Gà (Galliformes) Họ (family): Trĩ (Phasianidae) Giống (genus): Rheinardia Loài (species): Trĩ Sao (Rheinardia ocellata) 1.1 Đặc điểm nhận biết Trĩ sao (Rheinardia ocellata): là một trong số các loài thuộc họ Trĩ có kích thƣớc lớn của một số loài họ Trĩ, những con chim lớn có thể dài tới 235 cm. Chim trống trổ mã vào năm thứ 3 nhƣng đuôi chỉ đạt kích thƣớc tối đa vào năm thứ 6. Con trống trƣởng thành có mào lông ở đỉnh đầu dài tới 60mm, màu nâu tối với các chấm trắng nâu hung đen những không rõ bằng phân loài trĩ sao Mã Lai (BirdLife International, 2012).1: Loài Trĩ sao (Rheinardia ocellata) (Nguồn: quantn10) 3 Loài Trĩ sao có lông mày rộng, kéo dài màu trắng.
Mặt lƣng và đuôi màu nâu thẫm, đôi chỗ phớt hung. Mặt bụng gần giống lƣng nhƣng lẫn nhiều màu hung thẫm hơn. Đuôi dài, hai lông đuôi giữa phát triển dài tới 1500mm. Con mái tƣơng tự nhƣ con trống nhƣng kích thƣớc nhỏ hơn.
Mào lông thƣa và ngắn hơn ở con trống. Đuôi cũng ngắn hơn và không có hai lông đuôi giữa dài nhƣ con trống. Bề ngoài, Trĩ sao mái nhìn gần tƣơng tự với con trống, với mào và đuôi ngắn hơn (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Loài Trĩ sao sở hữu bộ lông màu nâu hoặc xám đen với rất nhiều đốm trắng nhỏ, trông nhƣ bầu trời sao chính vì vậy còn có tên gọi là Trĩ sao.
Chim có đầu nhỏ, mỏ đỏ, đỉnh đầu đƣợc trang trí bằng các lông vũ màu trắng dựng đứng tại khu vực mào. Một số con nhìn đẹp mắt với bộ lông màu vàng da bò và đen với các đốm nâu sẫm, mỏ đỏ, mống mắt nâu và lớp da màu xanh lam xung quanh mắt. Trĩ sao trống có đuôi thuôn dài và rộng bản với 12 lông vũ dài gần tới 2m. Đây là một trong số các loài chim có lông vũ dài nhất đƣợc ghi nhận.
Mỏ màu hồng, mắt nâu, chân nâu thẫm phớt hồng, có cựa, cựa của con trống phát triển hơn ở con mái (Sách đỏ Việt Nam, 2007).2: Phần lông vũ dựng đứng tại khu vực mào của Trĩ sao (Rheinardia ocellata) (Nguồn: pinterest) 4 Loài Trĩ Sao (Rheinardia ocellata) hiện nay đang đứng trƣớc nguy cơ bị đe dọa cao do bị mất sinh cảnh sống và tình trạng săn bắn trái phép. Sách đỏ Việt Nam (2007) đã xếp Trĩ Sao vào nhóm các loài bị đe dọa ở mức sẽ nguy cấp (VU) và chúng đƣợc xếp ở mức gần đe dọa (NT) trong sách đỏ IUCN (2017). Ngoài ra loài chim này còn có tên trong phụ lục IB của Nghị định 32 (2006).2 Đặc điểm sinh thái Trĩ sao sống và kiếm ăn ở các khu rừng nguyên, thứ sinh ẩm thƣờng xanh trên các đỉnh và sƣờn đồi có độ dốc khác nhau ở độ cao từ 100-1000m so với mực nƣớc biển, và ở cao nguyên Đà Lạt là dƣới 700-900m. Nó đƣợc ghi nhận là đã sinh sống ở các sinh cảnh rừng thoái hóa và các khu rừng có các hoạt động khai thác gỗ tự nhiên (BirdLife International, 2016).
Ở Malaysia, loài Trĩ sao có mật độ cao nhất ở rừng nguyên sinh ẩm ƣớt ở vùng đất thấp đến 900m. Khu đề xuất BTTN Khe Nƣớc Trong là khu vực có hệ động vật cực kỳ phong phú với một diện tích lớn là HST rừng thƣờng xanh trên vùng đất thấp (UBND tỉnh Quảng Bình, 2010). Khu vục này cũng đƣợc tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế xác định là một trong các vùng Chim đặc hữu đất thấp của khu vực miền Trung.2 Trên Thế Giới Loài Trĩ Sao (Rheinardia ocellata) là loài chim đặc hữu của khu vực Đông Nam Á, chúng chỉ đƣợc ghi nhận là xuất hiện dọc theo dãy núi Trƣờng Sơn ở miền Trung và miền Nam Việt Nam, phía nam Cao nguyên Đà Lạt ở miền Nam Việt Nam (Nguyễn Cử et al. Ngoài ra Trĩ sao còn đƣợc phân bố ở một số nƣớc nhƣ Lào và ở bên sƣờn phía đông của bán đảo Malaysia, mặc dù khu vực phân bố bị giới hạn ở dải băng hẹp (BirdLife International, 2016).
Trƣớc đây, Trĩ sao chỉ đƣợc biết đến từ tám địa điểm bên trong hoặc gần VQG Taman Negara. Mặc dù phạm vi và môi trƣờng sống của loài đã bị giảm và phân tán ở Lào và Việt Nam, và một sự suy giảm đáng kể về số lƣợng loài trong thời gian qua nhƣng may mắn rằng các phân loài đề cử vẫn còn tồn tại một số cá thể và nằm rải rác ở một số địa phƣơng trong khu vực.3: Hình ảnh của loài Trĩ sao Mã (Nguồn: pinterest) 1.3 Ở Việt Nam Ở Việt Nam Trĩ Sao có tên là Trĩ Sao Việt Nam (Rheinardia ocellata) hay còn gọi là Trĩ Sao An Nam (Rheinarte d'Annam) là một trong hai phân loài của loài Trĩ Sao (Rheinardia ocellata), phân loài kia là Trĩ sao Mã Lai (R. Hiện Trĩ Sao phân bố chủ yếu ở nhiều vùng rừng từ Bắc Trung Bộ vào đến Nam Trung Bộ. Gặp nhiều Trĩ Sao ở rừng của Nghệ An (Vƣờn Quốc Gia Pù Mát), Hà Tĩnh (khu vực rừng quanh hồ Kẻ Gỗ, Cát Bin huyện Cầm Xuyên), kéo dài đến ngang phía Bắc tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng (núi Bi Đúp).
Đây là phân loài trĩ sao duy nhất phân bố ở Việt Nam nên còn đƣợc gọi đơn giản là Trĩ Sao, phân loài này còn gặp ở miền Trung nƣớc Lào. Loài định cƣ này đƣợc phát hiện ở nhiều nơi trong vùng phân bố nhƣ VQG Bạch Mã, vùng rừng chạy dọc đèo 41 huyện A Lƣới ở Huế. Khu BTTN Phong Điền và Đắk Rông và ở độ cao 500-700m của Khu BTTN Bà Nà - Núi Chúa. Chúng là một trong những loài chim đẹp nhất tồn tại trong thiên nhiên hoang dã ở Việt Nam (Sách đỏ Việt Nam, 2007).4: Hình ảnh Trĩ sao (Rheinardia ocellata) (Nguồn: pinterest) 1.4 Trĩ Sao tại Khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Khe Nƣớc Trong (Quảng Bình) Khu đề xuất Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Khe Nƣớc Trong có diện tích khoảng 19.898 ha, nằm trong vùng Chim quốc tế quan trọng Trƣờng Sơn, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, phía Nam tiếp giáp với Khu BTTN Bắc Hƣớng Hóa của tỉnh Quảng Trị, phía Tây tiếp giáp với biên giới Lào.
Theo nhận định của các nhà nghiên cứu, Khe Nƣớc Trong là khu vực có khu hệ động vật cực kỳ phong phú với một diện tích lớn là hệ sinh thái rừng thƣờng xanh trên vùng đất thấp (UBND tỉnh Quảng Bình, 2010).