ĐẶT VẤN ĐỀ Nước là một thực phẩm cần thiết cho đời sống và nhu cầu sinh lý của cơ thể. Bên cạnh đó, chất lượng nước cũng đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của Y tế công cộng, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 80% các bệnh tật của con người có liên quan đến chất lượng nước. Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì việc sử dụng nước uống đóng chai đang ngày trở lên phổ biến và tăng nhanh ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Có nhiều lý do người tiêu dùng tìm đến nước uống đóng chai, trong đó có sự tiện lợi tinh khiết, sạch sẽ và có chất lượng tốt.
Tuy nhiên, thực tế nước uống đóng chai không phải luôn luôn an toàn. Theo nghiên cứu điều tra ở Sri Lanka cho thấy 63% nước uống đóng chai của các thương hiệu lưu hành trên thị trường có lượng vi sinh vật và hóa học vượt quá mức cho phép [55]. Nghiên cứu của tác giả Kassenga, G. R ở Tanzania cho thấy nhiễm vi sinh ở nước uống đóng chai là 26,2%[56].
Báo cáo công tác kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm - Bộ Y tế năm 2007 thì chất lượng nước uống đóng chai không đạt về vi sinh là 42,9%. Qua đợt thanh tra, kiểm tra 538 cơ sở sản xuất nước uống đóng chai của Bộ Y tế tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Giang cho thấy: số cơ sở vi phạm là150 (27,8%). Số mẫu nước được kiểm nghiệm không đạt chất lượng 44/177 (24,8%)[24]. Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về chất lượng nước uống đóng chai.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc khảo sát đánh giá chất lượng nước bán trên thị trường chưa đánh giá được các yếu tố nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước đầu vào và cũng chưa có nghiên cứu nào đánh giá chất lượng nước uống đóng chai theo QCVN 6-1:2010/BYT, đây là quy định mới nhất về chất lượng nước uống đóng chai. Do đó, việc đánh giá 2 tổng thể chất lượng nước uống đóng chai theo qui chuẩn việt nam tại các cơ sở sản xuất và các yếu tố có liên quan là hết sức cần thiết để thiết kế chương trình can thiệp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng nước [7],[8]. Tỉnh Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, theo thống kê của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm đến 9/2017 đã có 120 cơ sở sản xuất nước uống đóng chai. Qua khảo sát 63 cơ sở năm 2017 có 14,21% cơ sở không đảm bảo điều kiện vệ sinh cơ sở, 14,3% mẫu nhiễm vi sinh vật, 6,56% mẫu không đạt chỉ tiêu về lý hoá [17], đây là con số đáng báo động về chất lượng nước uống đóng chai.
Từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đánh giá kết quả can thiệp cải thiện điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất nước uống đóng chai tại tỉnh Đồng Nai năm 2018-2019”.Nghiên cứu được tiến hành với các mục tiêu sau: 1. Xác định tỉ lệ cơ sở sản xuất nước uống đóng chai đạt các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm theo Nghị định 67/2016/NĐ-CP và kiến thức về thực hành sản xuất tại tỉnh Đồng Nai năm 2018-2019. Xác định tỉ lệ mẫu nước uống đóng chai thành phẩm tại các cơ sở sản xuất đạt chất lượng theo QCVN 6-1:2010/BYT và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Đồng Nai năm 2018-2019. Đánh giá kết quả can thiệp bằng truyền thông cải thiện các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm và kiến thức về thực hành sản xuất của người sản xuất nước uống đóng chai tại tỉnh Đồng Nai.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm chung về an toàn thực phẩm Trong nghiên cứu này, căn cứ Luật an toàn thực phẩm sử dụng một số từ ngữ [18],[38]. Nƣớc uống đóng chai Sản phẩm nước uống đóng chai (NUĐC) được sử dụng để uống trực tiếp, có thể có chứa khoáng chất và carbon dioxyd (CO2) tự nhiên hoặc bổ sung nhưng không phải là nước khoáng thiên nhiên đóng chai và không chứa đường, các chất tạo ngọt, các chất tạo hương hoặc bất kỳ chất nào khác. Cơ sở sản xuất nƣớc uống đóng chai Cơ sở sản xuất nước uống đóng chai là tất cả các cơ sở, doanh nghiệp, công ty sản xuất nước uống đóng chai.
An toàn thực phẩm An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người. Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khoẻ, tính mạng con người. Nguy cơ ô nhiễm thực phẩm Nguy cơ ô nhiễm thực phẩm là khả năng các tác nhân gây ô nhiễm xâm nhập vào thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Chất lƣợng sản phẩm và tiêu chuẩn chất lƣợng sản phẩm - Chất lượng sản phẩmlà tổng thể những thuộc tính (những chỉ tiêu kỹ thuật, những đặc trưng) của chúng, được xác định bằng các thông số có thể đo được, so sánh được, phù hợp với các điều kiện kỹ thuật hiện có, thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội và của cá nhân trong những điều kiện sản xuất tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm.
- Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩmlà văn bản kỹ thuật quy định các đặc tính, yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm, phương pháp thử các đặc tính, yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm, các yêu cầu về bao gói, ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, các yêu cầu đối với hệ thống quản lý chất lượng và các vấn đề khác có liên quan đến chất lượng sản phẩm. Vai trò của tài nguyên nƣớc 1. Sơ lƣợc về tài nguyên nƣớc Trái đất có khoảng 361 triệu km2 diện tích các đại dương(chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất). Tài nguyên nước ngọt chiếm 28,25 triệu km3 (1,88% thủy quyển), nhưng phần lớn lại ở dạng đóng băng ở hai cực trái đất (hơn 70% lượng nước ngọt).Các nguồn nước trong tự nhiên không ngừng vận động và chuyển trạng thái (lỏng, rắn, khí), tạo nên vòng tuần hoàn nước trong sinh quyển: nước bốc hơi, ngưng tụ và mưa.
Nƣớc cần cho sự sống Nước tham gia vào thành phần cấu trúc sinh quyển, điều hòa các yếu tố khí hậu, đất đai và sinh vật. Nước còn đáp ứng những nhu cầu đa dạng của con người trong sinh hoạt hằng ngày, tưới tiêu cho nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, sản xuất điện năng và tạo ra nhiều cảnh quan đẹp. Nước rất cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật. Nước chiếm 74% trọng lượng trẻ sơ sinh, 55% đến 60% cơ thể nam trưởng thành, 50% cơ thể nữ trưởng thành.
Nước cần thiết cho sự tăng trưởng 5 và duy trì cơ thể bởi nó liên quan đến nhiều quá trình sinh hoạt quan trọng. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy con người có thể sống nhịn ăn trong năm tuần, nhưng nhịn uống nước thì không quá năm ngày và nhịn thở không quá năm phút. Khi đói trong một thời gian dài, cơ thể sẽ tiêu thụ hết lượng glycogen, toàn bộ mỡ dự trữ, một nửa lượng protein để duy trì sự sống. Nhưng nếu cơ thể chỉ cần mất hơn 10% nước là đã nguy hiểm đến tính mạng và mất 20- 22% nước sẽ dẫn đến tử vong [33].
Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng quốc gia, khoảng 80% thành phần mô não được cấu tạo bởi nước, việc thường xuyên thiếu nước làm giảm sút tinh thần, khả năng tập trung kém và đôi khi mất trí nhớ. Nếu thiếu nước, sự chuyển hóa protein và enzym để đưa chất dinh dưỡng đến các bộ phận khác của cơ thể sẽ gặp khó khăn. Ngoài ra, nước còn có nhiệm vụ thanh lọc và giải phóng những độc tố xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và hô hấp một cách hiệu quả. Uống đủ nước làm cho hệ thống bài tiết được hoạt động thường xuyên, bài thải những độc tố trong cơ thể, có thể ngăn ngừa sự tồn đọng lâu dài của những độc tố gây bệnh ung thư: uống nước nhiều hằng ngày giúp làm loãng và gia tăng lượng nước tiểu bài tiết cũng như góp phần thúc đẩy sự lưu thông toàn cơ thể, từ đó ngăn ngừa hình thành của các loại sỏi: đường tiết niệu, bàng quang, niệu quản v.
Nước cũng là một biện pháp giảm cân hữu hiệu và đơn giản, nhất là uống một ly nước đầy khi cảm thấy đói hoặc trước mỗi bữa ăn. Tài nguyên nƣớc tại Đồng Nai Tài nguyên nước mặt - nước máy: hệ thống sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ hai ở phía Namvà đứng thứ ba toàn quốc.Hiện tại các sông đang được khai thác để dùng cho thuỷ điện Trị An và thuỷ lợi Dầu Tiếng. Các con sông này và nguồn nước ngầm tạo nên nguồn nuớc dồi dào đủ cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh [49],[50]. 6 Chất lượng nước mặt vùng hạ lưu và các kênh rạch có xu hướng gia tăng ô nhiễm hữu cơ và vi sinh, cụ thể, chất lượng nước sông Đồng Nai có hiện tượng ô nhiễm dinh dưỡng hàm lượng NH3 - N vượt giới hạn cho phép 2,5 lần.
Chất lượng nước sông Sài Gòn ô nhiễm cao hơn so với sông Đồng Nai, hàm lượng NH3 - N vượt giới hạn cho phép 3,0 lần. Các kênh rạch chảy qua các nội ô thành phố Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu đã bị ô nhiễm hữu cơ, vi sinh ở mức đáng báo động, hàm lượng NH3 - N vượt từ 2,5 - 7 lần, nhất là các kênh, suối.Mức độ ô nhiễm các kênh rạch này có xu hướng tiếp tục gia tăng [50],[51]. Theo báo cáo năm 2011 của Trung tâm Y tế dự phòng Đồng Nai, tổng số nhà máy nước, trạm cấp nước tập trung có khả năng cung cấp nước cho 500 người trở lên trên địa bàn là: 07, từ 500 người trở xuống là 29. Kết quả xét nghiệm nước của các nhà máy nước, trạm cấp nước cho 500 người trở lên tổng số mẫu đạt tiêu chuẩn vệ sinh theo QCVN 02:2009/BYT [8] về Qui chuẩn kỹ thuật nước sinh hoạt là 153/171 (mẫu), chiếm 89,5%, trong đó mẫu không đạt về các chỉ tiêu lý hoá là 18 (mẫu) chiếm 10,5%.