Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp hình sự, việc xử lý các trường hợp một cá nhân thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật luôn là thách thức phức tạp đối với các cơ quan tiến hành tố tụng. Theo ghi nhận thực tiễn, các vụ án có tính chất phạm nhiều tội chiếm tỷ lệ khoảng 25% đến 30% trong tổng số các vụ án hình sự thụ lý tại các đô thị lớn trong giai đoạn 2005 - 2015. Thực trạng này đòi hỏi việc làm sáng tỏ cơ sở lý luận và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm đảm bảo tính răn đe, nghiêm minh và phân hóa trách nhiệm hình sự rõ rệt. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự, mã số 60 38 01 04, hoàn thành năm 2015 tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Độ, tập trung giải quyết toàn diện vấn đề này.

Mục tiêu then chốt của công trình là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế định phạm nhiều tội, phân định ranh giới giữa phạm nhiều tội với các dạng định danh tương đồng như phạm tội nhiều lần hay tái phạm nguy hiểm. Nghiên cứu thực hiện đánh giá toàn diện các quy định từ Bộ luật Hình sự năm 1985 đến Điều 50 và Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đồng thời rà soát thực tiễn xét xử tại các Tòa án nhân dân trong giai đoạn 10 năm từ 2005 đến 2015. Kết quả nghiên cứu đóng góp nền tảng khoa học vững chắc, cung cấp hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử đạt độ chuẩn xác 100% về định tội danh và tổng hợp hình phạt, phục vụ trực tiếp cho tiến trình cải cách tư pháp đến năm 2020 của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm và học thuyết về trách nhiệm hình sự, kết hợp với lý luận về mục đích của hình phạt trong khoa học luật hình sự hiện đại. Nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

Thứ nhất, khái niệm phạm nhiều tội được xác định là trường hợp một người thực hiện một hoặc nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội thỏa mãn từ 2 cấu thành tội phạm độc lập trở lên và bị đưa ra xét xử trong cùng một lần.

Thứ hai, khái niệm phạm tội nhiều lần được phân định rõ với bản chất là việc thực hiện từ 2 lần trở lên cùng một tội phạm xâm hại cùng một khách thể, đóng vai trò là tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Thứ ba, khái niệm tái phạm và tái phạm nguy hiểm gắn liền với điều kiện chủ thể đã bị kết án, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới.

Thứ tư, khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, áp dụng đối với người cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên và lấy kết quả phạm tội làm nguồn thu nhập sinh sống chính. Ngoài ra, khung lý thuyết còn mở rộng so sánh với pháp luật quốc tế như Điều 17 và Điều 70 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, Điều 45 và Điều 54 Bộ luật Hình sự Nhật Bản, các quy định của Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức và Thụy Điển.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp từ 120 hồ sơ vụ án hình sự điển hình và các bản án có hiệu lực pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp trong mốc thời gian từ năm 2005 đến năm 2015. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 120 vụ án được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích, đại diện cho 3 nhóm tội phạm chính: tội xâm phạm sở hữu, tội xâm phạm tính mạng sức khỏe và tội phạm về ma túy.

Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm kết hợp chặt chẽ với phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê xã hội học pháp luật. Lý do lựa chọn mô hình phân tích quy trình định tội 3 bước (xác định hiện thực khách quan, nhận thức quy phạm và đối chiếu dấu hiệu cấu thành) là nhằm loại bỏ tính chủ quan, đảm bảo tính chuẩn xác khi đánh giá các vụ án phức tạp. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu kéo dài trong 18 tháng, đối chiếu thực tiễn thi hành từ Sắc lệnh năm 1945, Bộ luật Hình sự năm 1985 đến Bộ luật Hình sự năm 1999.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật đã chỉ ra 3 phát hiện trọng tâm về mặt lý luận và thực tiễn xét xử:

Thứ nhất, tồn tại 2 dạng biểu hiện hành vi đặc thù của phạm nhiều tội: một hành vi nhưng cấu thành nhiều tội (như hành vi gài mìn nhằm giết người đồng thời làm sập nhà cấu thành tội Giết người và tội Hủy hoại tài sản) và nhiều hành vi độc lập cấu thành nhiều tội phạm riêng biệt (như trộm cắp tài sản rồi đốt nhà phi tang).

Thứ hai, việc áp dụng nguyên tắc cộng toàn bộ hình phạt tù có thời hạn theo Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được thực thi hiệu quả nhưng gặp giới hạn mức trần 30 năm tù. Điển hình như vụ án luật sư Lê Bảo Q phạm 5 tội danh (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 18 năm, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 8 năm, Đưa hối lộ 2 năm, Làm giả giấy tờ 6 tháng, Trốn khỏi nơi giam 6 tháng), tổng cộng mức phạt là 29 năm tù. Trường hợp khác, bị cáo Nguyễn Mạnh H bị xử phạt 9 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và 18 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích với tỷ lệ tổn hại sức khỏe 28%, mức hình phạt tổng hợp là 10 năm 6 tháng tù.

Thứ ba, việc áp dụng phương pháp thu hút hình phạt tuyệt đối khi có hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thể hiện tính nghiêm minh cao. Trong vụ án Nguyễn Quang H và Hoàng Thị L sát hại bà M để xóa khoản nợ 850 triệu đồng, bị cáo H nhận mức án tử hình về tội Giết người và 13 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hình phạt chung được thu hút là tử hình. Trong vụ án Hoàng Văn B buôn bán 6 bánh heroin trọng lượng 1980,51 gam và tàng trữ 300 viên ma túy tổng hợp khối lượng 27,3 gam, Tòa án tuyên tử hình về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 7 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, hình phạt chung là tử hình.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện từ dữ liệu thực tế có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cơ cấu các dạng phạm nhiều tội và bảng tổng hợp các phương thức xử lý hình phạt. Sự gia tăng khoảng 35% các vụ án phạm nhiều tội thuộc nhóm tội phạm về ma túy và tội phạm xâm phạm sở hữu xuất phát từ tính chất tổ chức tinh vi và động cơ vụ lợi phức tạp. So sánh với quy định của Liên bang Nga (Điều 70 giới hạn mức phạt tù tổng hợp không quá 20 năm đối với tội nghiêm trọng), pháp luật Việt Nam cho phép mức trần 30 năm tù, phản ánh chính sách trừng trị nghiêm khắc hơn đối với tội phạm có độ nguy hiểm cao.

Tuy nhiên, nghiên cứu phát hiện sự bất cập nổi cộm tại điểm e khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 khi quy định hình phạt trục xuất không tổng hợp với các hình phạt khác. Quy định này dẫn tới tình trạng bất khả thi trên thực tế nếu người phạm tội đồng thời bị tuyên án tử hình và trục xuất, bởi theo quy định tại Điều 265 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, thời hạn rời khỏi lãnh thổ là 15 ngày, tạo ra xung đột thực thi nghiêm trọng. Đồng thời, việc áp dụng đồng thời hai hình phạt bổ sung là cấm cư trú (từ 1 đến 5 năm) và quản chế (từ 1 đến 5 năm) là chồng chéo, bởi nội hàm của hình phạt quản chế đã bao hàm toàn bộ mục đích phòng ngừa của cấm cư trú.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện chế định phạm nhiều tội và nâng cao hiệu quả xét xử, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, bổ sung một điều luật độc lập định nghĩa về phạm nhiều tội tại Phần chung của Bộ luật Hình sự sửa đổi, xác định rõ: Phạm nhiều tội là trường hợp một người thực hiện một hoặc nhiều hành vi thỏa mãn từ 2 cấu thành tội phạm trở lên và bị đưa ra xét xử trong cùng một lần. Mục tiêu đạt 100% sự thống nhất trong nhận thức pháp lý của Hội đồng xét xử trên phạm vi cả nước.

Thứ hai, sửa đổi quy tắc tổng hợp hình phạt chính tại Điều 50 Bộ luật Hình sự, quy định rõ nguyên tắc thu hút hình phạt trục xuất vào hình phạt tử hình hoặc tù chung thân. Chủ thể thực hiện là Quốc hội và Ban soạn thảo Bộ luật Hình sự, mục tiêu hoàn thiện trước năm 2016.

Thứ ba, quy định nguyên tắc thu hút đối với hai hình phạt bổ sung cấm cư trú và quản chế. Cụ thể, khi Tòa án tuyên cả hai hình phạt bổ sung này đối với cùng một người phạm tội, chỉ áp dụng hình phạt quản chế với thời hạn từ 1 năm đến 5 năm nhằm loại bỏ tình trạng trùng lặp chế tài.

Thứ tư, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết quy trình định tội danh 3 bước đối với các cặp tội danh có mối quan hệ phức tạp (như tội cướp tài sản và đe dọa giết người). Song song đó, tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm cho đội ngũ Thẩm phán và Kiểm sát viên nhằm giảm tỷ lệ kháng nghị, cải sửa án xuống dưới mức 1%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm độc giả:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử tại 3 cấp Tòa án nhân dân: Tài liệu cung cấp cơ sở đối chiếu vững chắc để định tội danh chính xác và áp dụng đúng đắn các nguyên tắc cộng toàn bộ, cộng một phần hoặc thu hút hình phạt theo quy định.

Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân các cấp: Cung cấp phương pháp phân tích toàn diện 4 yếu tố cấu thành tội phạm, giúp nâng cao chất lượng bản cáo trạng và bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm.

Luật sư và người bào chữa: Giúp xây dựng luận cứ sắc bén nhằm phân biệt ranh giới giữa phạm nhiều tội với tình tiết phạm tội nhiều lần hay phạm tội liên tục, tối ưu hóa phương án bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho thân chủ.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên ngành Luật: Nguồn tư liệu tham khảo chuẩn mực với hệ thống 120 hồ sơ vụ án thực tiễn, hỗ trợ đắc lực cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về phần chung luật hình sự.

Câu hỏi thường gặp

Phạm nhiều tội khác với phạm tội nhiều lần như thế nào? Phạm nhiều tội là việc thực hiện một hoặc nhiều hành vi cấu thành từ 2 tội phạm khác nhau trở lên và bị xét xử cùng lần. Trong khi đó, phạm tội nhiều lần là việc thực hiện từ 2 lần trở lên cùng một tội phạm xâm phạm cùng một khách thể, đóng vai trò là tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Mức hình phạt tù có thời hạn tối đa khi tổng hợp nhiều tội là bao nhiêu? Theo điểm a khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999, khi tổng hợp các hình phạt tù có thời hạn của nhiều tội danh được đưa ra xét xử cùng một lần, mức hình phạt chung tối đa không được vượt quá 30 năm tù.

Khi người phạm tội bị tuyên một tội tử hình và một tội tù có thời hạn thì tổng hợp thế nào? Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999, Tòa án áp dụng phương pháp thu hút hình phạt. Khi hình phạt nặng nhất trong số các tội đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung áp dụng cho toàn bộ các tội phạm là tử hình.

Quy tắc tổng hợp giữa hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù có thời hạn được thực hiện ra sao? Theo điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999, hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù có thời hạn theo tỷ lệ 3 ngày cải tạo không giam giữ bằng 1 ngày tù, sau đó cộng với hình phạt tù có thời hạn thành hình phạt chung.

Tại sao hình phạt quản chế và cấm cư trú không nên áp dụng đồng thời? Thời hạn quản chế và cấm cư trú đều từ 1 đến 5 năm sau khi chấp hành xong án phạt tù. Do quản chế đã bắt buộc người bị kết án chỉ được sinh sống tại một địa phương nhất định và chịu kiểm soát, mục đích ngăn chặn cư trú ở nơi cấm đương nhiên đạt được mà không cần áp dụng thêm cấm cư trú.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thông qua 5 đóng góp trọng tâm:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về bản chất pháp lý và 2 dạng biểu hiện hành vi đặc thù của chế định phạm nhiều tội.
  • Phân định rõ ràng ranh giới giữa phạm nhiều tội với phạm tội nhiều lần, tái phạm nguy hiểm và phạm tội chuyên nghiệp.
  • Đánh giá thực trạng áp dụng Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 qua 120 hồ sơ vụ án thực tế giai đoạn 2005 - 2015.
  • Chỉ rõ những điểm mâu thuẫn trong việc tổng hợp hình phạt trục xuất và sự chồng chéo giữa hai hình phạt bổ sung cấm cư trú và quản chế.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp lập pháp và hướng dẫn áp dụng án lệ hướng tới hoàn thiện Bộ luật Hình sự trong tiến trình cải cách tư pháp.

Các cơ quan lập pháp và cơ quan tiến hành tố tụng cần khẩn trương nghiên cứu, thể chế hóa những kiến nghị của luận văn thành các điều khoản luật định cụ thể, góp phần xây dựng nền tư pháp công minh, bảo vệ quyền con người và trật tự an toàn xã hội.