Chương 1: Các van dé cơ bản về nghĩa vụ dân sự theo Pháp luật dân sự hiện hành trong dạy học môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật 1. Khái niệm, đặc điểm của nghĩa vụ dân sự 1. Khái niệm Trong thực tế cuộc sông chúng ta hay bắt gặp từ “nghia vụ” trong nhiều trường hợp vi dy có những nghĩa vụ chúng ta phải làm nếu không làm sẽ vi phạm đưới góc độ pháp luật như công dân phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, đóng thuế theo quy định. người có hành vi trái pháp luật phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho người khác.
Song song đó có những nghĩa vụ cá nhân có thê lam hoặc không lam néu cá nhân không làm sẽ không vi phạm pháp luật nhưng lại vi phạm đạo đức con người như bạn bè có nghĩa vụ giúp đỡ nhau trong những lúc khó khăn, con cháu phải có nghĩa vụ đẻ tang, thờ cúng ông bà, cha mẹ đã mắt. Theo Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015 “Điêu 274. Nghĩa vụ Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vu) phải chuyển giao vat, chuyển giao quyên, trả tiền hoặc giấy tờ có gid, thực hiện công Việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyên). Định nghĩa trên không có sự thay đôi quá hiéu so với với Điều 280 Bộ luật Dân sự 2005: “Nghĩa vụ dan sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thé (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phái chuyển giao vật, chuyển giao quyên, trả tiên hoặc giấy tờ có giá, thực hién công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây goi chung là bên có quyền).
” đã lược bỏ đi từ “Dân sự” cho thấy chủ ý của các nhà lập pháp chính là muốn khái niệm “nghĩa vụ” không chỉ áp dụng cho quan hệ dân sự thuần tủy ma còn cho quan hệ ở các lĩnh vực khác ví dụ như: kinh doanh, thương mai. Hiểu một cách đơn giản, nghĩa vụ là việc mỗi công dan phải thực hiện một hoặc nhiều hành vi cần thiết do Nhà nước quy định. Trường hợp công dân không tuân thủ thực hiện đúng thì Nhà nước sẽ có các hình phat va biện pháp xử lý như giáo dục. cưỡng che, Ngoài ra, nghĩa vụ còn là mỗi quan hệ ràng buộc giữa hai người hoặc hai tô chức với nhau, trong đó một bên có trách nhiệm thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc nhiều hành vi nhất định theo thỏa thuận đã được thống nhất.
Nghĩa vụ được xác định là nghĩa vụ pháp luật khi được cau thành bởi 3 yếu tố: chủ thẻ, khách thé và nội dung của quan hệ pháp luật dân sự. Trong đó: - Chủ thê: La cá nhân, tô chức, doanh nghiệp, pháp nhân, nhà nước hoặc các chủ thé khác được pháp luật thừa nhận. - Khách thé: La bên mang quyền trong một mối quan hệ nghĩa vụ. Các lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà bên chủ thé thực hiện đều hướng tới dành cho khách thê.
- Nội dung: Những hoạt động cụ thê trong quan hệ nghĩa vụ như chuyên giao quyền, chuyền giao vật,. Tất cả quyên và nghĩa vụ của các bên tham gia đều được thực hiện dưới sự đảm bao của pháp luật nha nước. Đặc điểm Nghĩa vụ là quan hệ giữa các chủ thé với nhau. Quan hệ này có đặc thù là một sự rảng buộc pháp lý.
Theo Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015 có thẻ thấy: Nghĩa vụ dân sự la một loại quan hệ, trong đó phải có ít nhất là hai bên (bên có quyền, bên có nghĩa vụ) mỗi bên có thé có một hoặc nhiều chủ thé tham gia. Bên có nghĩa vụ phái thực hiện hoặc không được thực hiện theo yêu cầu của bên có quyên. nếu không thực hiện, thực hiện không đúng yêu cau thì phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định. Do đó nghĩa vụ din sự ở đây có những đặc điểm sau: - Là một rang buộc pháp lý phát sinh do thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.
+Trong thực tế có những nghĩa vụ mà căn cứ phát sinh do chủ thê hai bên quyết định va tự thỏa thuận với nhau. Vi dụ: Bên A thỏa thuận bán máy vi tính cho bên B thì nghĩa vụ dan sự đã được xác lập ở đây là “nghĩa vụ bán máy” và “nghĩa vụ trả tiên”. Nếu A không giao máy tinh cho B thì B có thê khởi kiện A ra Tòa án dé yêu cầu Tòa án buộc A phải giao 5 PGS.TS Đỗ Văn Đại (chủ biên) Bình luận khoa học Những điềm mới của Bộ luật Dan sự năm 2015, Nxb. Hỗng Đức - Hội Luật gia Việt Nam.
máy vi tính cho B theo hợp đồng đã được giao kết. Nếu B không trả tiền cho A thì A có thê khởi kiện B ra tòa án để yêu cầu tòa án buộc B phải trả tiền cho S theo hợp đồng được giao kết. + Trong trường hợp rang buộc pháp lý do luật quy định. Ví dụ: A trộm của B 10 triệu đồng ở đây nghĩa vụ phát sinh là “nghĩa vụ bồi thường” trong trường hợp này pháp luật đã quy định bên vi phạm là bên B phải bồi thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
- La quan hệ trái quyên. Ví dụ: A thỏa thuận bán cho B một tải sản, lợi ích của A được thỏa mãn thông qua việc trả tiền của B, lợi ích của B thỏa mãn thông qua hành vi giao tải sản của A. Nếu A không giao tài sản thì B phải yêu cầu A giao tài sản cho mình. Quan hệ trái quyền khác với quan vật quyền ở chỗ néu A không giao tải sản cho B ma mang tai sản tiếp tục bán cho C thì B có quyên tìm A hoặc khởi kiện A về nghĩa vụ phải giao tai sản đã thỏa thuận bán hoặc yêu cầu A bồi thường thiệt hại cho minh ma không phải tìm C đề giải quyết.
- Là quan hệ pháp luật dân sự mang tính tương đỗi. Vi dụ: A mua xe của B nhưng B lại cho C mượn xe, đến ngày giao xe thì C lam mat xe và B không có xe dé giao cho A. Trong trường hợp này, nghĩa vụ chuyên giao tải sản chuyên thành nghĩa vụ bôi thường vì trường hợp bat khả kháng không thê thực hiện nghĩa vụ ban dau đã thỏa thuận. - Bên có nghĩa vụ không dan thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của bên có quyền ma con phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên thứ ba do bên có quyền chỉ định.
Trong cuộc sống, không phải trường hợp nao bên có nghĩa vụ cũng phải thực hiện đối với bên có quyền. Vi dụ: A mua bảo hiểm cho B và B là con của A. Trong trường hợp đồng này quan hệ hợp dong là của A và công ty bảo hiểm nhưng người có quyền hưởng lợi từ hợp đồng này là B (bên thứ 3), công ty bảo hiém phải thực hiện nghĩa vụ vi quyền lợi của (bên thứ 3) - Phan lớn trong các quan hệ nghĩa vụ thường có chế tài kèm theo dé dé phòng khi nghĩa vụ bị vi phạm. Trong quan hệ pháp luật dan sự việc đặt ra chế tài kèm theo dé đề phòng trường hợp nghĩa vụ bị vi phạm.
Vi dụ: Nếu A cố ý gây thương tích với B làm cho B bị thương tích với ty lệ thương tật 10% phải điều trị hết 15 triệu đồng. A phải bôi thường thiệt hai cho B nếu A. Không tự nguyện bôi thường thì B. Có thể khởi kiện A ra tòa án để yêu cầu tòa án buộc A bồi thường thiệt hại cho B.
Trên cơ sở đó các bên nhận thức được vai trỏ, trách nhiệm của mình đề thực hiện nghĩa vụ tốt hơn. Đối tượng của nghĩa vụ dân sự Nghĩa vụ là một quan hệ giữa các chủ thê vì vậy quan hệ nay phải có đối tượng. Theo Điều 276 Bộ luật Dân sự 2015: “Điều 276. Đối tượng của nghĩa vụ 1.
Đối tượng của nghĩa vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện. Doi tượng của nghĩa vụ phải được xác định. ” Theo Khoản 1 Điều 276 Bộ luật Dân sự 2015 thì đối tượng của nghĩa vụ là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện. Thứ nhất, đôi tượng của nghĩa vụ là tài sản: Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015: “Điều 105.
Tai sản + Tài sản là vật, tiên, giấy tờ có giá va quyền tài sản. + Tài sản bao gom bat động sản và động sản. Bat động sản và động sản có thể là tai san hiện có và tài sản hình thành trong tường lai. Đây là những gi các bên chủ thẻ trong quan hệ nghĩa vụ tác động tới dé qua đó thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình.
Trong thực tế nghĩa vụ trong đời song dân sự rất phô biến có đối tượng là tài sản. Ví dụ A ban 6 tô cho B thi A có nghĩa vụ giao ô tô đã bán cho B, nghĩa vụ giao ô tô của A cho B có đối tượng 1a tải san (ô tô) chính là vật, trong hợp đồng mua bán bên mua là B phải tra cho A một khoản tiền và đây cũng là một quan hệ nghĩa vụ có đối tượng là khoản tiền. Thứ hai, đối tượng của nghĩa vụ không nhất thiết là tài sản mà về công việc phải thực hiện. Không có văn bản quy phạm pháp luật giải thích thuật ngữ “công việc phải thực hiện" là gì.
Tuy nhiên, thuật ngữ “công việc” có thê hiểu là một dạng hoạt động cụ thê ma một bên mong muốn xác lập quan hệ nghĩa vụ dé bên còn lại thực hiện hoạt động này. Hoạt động nảy có thé thông qua hoặc không thông qua hành vi cụ thé. Và qua hoạt động này, bên yêu cầu có thé thỏa mãn được các nhu cầu vẻ lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh than. Do đó, công việc phái thực hiện được hiểu là những hoạt động thê hiện thông qua hành vi cụ thẻ.
Chang hạn A ký hợp đồng giảng day với B, trong hợp đồng giảng day người giảng dạy có nghĩa vụ giảng dạy và đối tượng ở đây không phải tai sản mà là công việc giảng day. đối tượng của nghĩa vụ còn có thê là công việc không được thực hiện Đối tượng nghĩa vụ này ít phô biến hon hai loại đối tượng nghĩa vụ nêu trên tuy nhiên trong thực tiễn đôi khi chúng ta có thẻ gặp loại nghĩa vụ này.