ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Loài Voi châu Á (Elephas maximus Linnaeus, 1758) là loài thú có kích thƣớc lớn, hoạt động ở nhiều dạng sinh cảnh khác nhau nhƣ: Trảng cỏ, rừng thƣờng xanh nhiệt đới, rừng bán thƣờng xanh, rừng rụng lá ẩm, rừng khộp, rừng khô cây gai, các khu rừng thứ sinh, trảng cỏ thứ sinh và đất canh tác nông nghiệp [9]. Với mức độ suy giảm nghiêm trọng về số lƣợng cá thể ở ngoài tự nhiên hiện nay, loài Voi châu Á (Elephas maximus Linnaeus, 1758) đang bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu ở các mức đe dọa tuyệt chủng cao: cấp rất nguy cấp (CR) trong Sách đỏ Việt Nam (2007), cấp Nguy cấp (EN) trong Danh sách đỏ thế giới (IUCN, 2016), nhóm IB trong Nghị định quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm) và phụ lục I của Công ƣớc quốc tế về quản lý buôn bán động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm (CITES, 2015). Các đe dọa chính đối với sự tồn tại của Voi châu Á trong thiên nhiên hiện nay là sự mất mát, suy thoái và phân mảnh môi trƣờng sống do sự gia tăng dân số của con ngƣời [47].
Điều này dẫn đến gia tăng mâu thuẫn giữa ngƣời và Voi do Voi xâm nhập vào các khu canh tác nông nghiệp ăn và phá hoại hoa màu, cây trồng, nhà cửa của dân. Trên thế giới hàng năm có hàng trăm ngƣời bị chết do Voi tấn công. Vì vậy, tƣơng lai lâu dài của Voi châu Á phụ thuộc chặt chẽ vào việc giảm thiểu xung đột giữa ngƣời và Voi, đây là một thử thách lớn trong công tác bảo tồn loài Voi châu Á hiện nay, bởi thế nên việc nghiên cứu hiện trạng quần thể và đề xuất các giải pháp bảo tồn loài là rất cần thiết. 2 Tại Việt Nam quần thể Voi châu Á bị suy giảm nghiêm trọng do mất rừng tự nhiên và nạn săn bắn trái phép Voi [43].
Theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp, quần thể Voi châu Á hoang dã ở Việt Nam giảm 95% sau 40 năm từ năm 1975-2015. Hiện nay chỉ còn trên 100 cá thể, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đắk Lắk, Đồng Nai và Nghệ An [34]. Với hệ thú đa dạng nhất của khu vực Bắc Trung Bộ, Nghệ An là một trong những tỉnh có số loài chiếm tới 98,5% số loài của vùng [28], tập trung chủ yếu ở các khu rừng đặc dụng: Vƣờn Quốc gia (VQG) và các Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) gồm: Khu BTTN Pù Hoạt, Khu BTTN Pù Huống. Với lợi thế là tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn nhất cả nƣớc (hơn 1,2 triệu ha), có nhiều tài nguyên đa dạng sinh học, với nhiều loài sinh vật quý hiếm có giá trị bảo tồn cao nhƣ Hổ (Phanthera tigris), Voi (Elephas maximus),Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), Mang trƣờng sơn (Mang Lớn (Muntiacus vu- quangensis)), Thỏ Vằn (Nesolagus timminsi).
Đồng thời đƣợc đánh giá là khu vực có sinh cảnh tốt nhất cho Voi rừng sinh sống. Trong những năm gần đây tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đã làm giảm một cách đáng kể diện tích rừng hiện có của Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng, làm suy thoái về chất lƣợng và mất sinh cảnh sống của nhiều loài động vật hoang dã trong đó có loài Voi châu Á (Elephas maximus). Đây chính là nguyên nhân làm cho xung đột giữa Voi và ngƣời dân địa phƣơng ngày càng căng thẳng. Mặc dù UBND tỉnh Nghệ An, chính quyền địa phƣơng và các tổ chức bảo tồn Voi đã có nhiều biện pháp bảo vệ quần thể Voi và hạn chế tình trạng Voi xuống bản nhƣ: đào hào chắn, tập trung đông ngƣời xua đuổi Voi vào rừng khi Voi xuống khu dân cƣ.
nhƣng đến nay vẫn chƣa giải quyết đƣợc những mâu thuẫn giữa quần thể Voi và cộng đồng địa phƣơng. Vì vậy, nghiên cứu hiện trạng quần thể loài Voi, xác định đƣợc vùng sống, vùng di chuyển, giảm 3 thiểu các tác động tiêu cực qua lại giữa quần thể Voi và cộng đồng địa phƣơng là công việc cần thiết và cần sớm đƣợc thực hiện. Trên cơ sở đó để cung cấp, bổ sung những thông tin khoa học, làm rõ thêm về hiện trạng, phân bố, số lƣợng quần thể, tác động qua lại giữa quần thể Voi và cộng đồng địa phƣơng từ đó đề xuất các giải pháp góp phần vào việc bảo tồn có hiệu quả loài Voi tại tỉnh Nghệ An chúng tôi chọn đề tài "Nghiên cứu hiện trạng, phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn loài Voi châu Á (Elephas maximus Linnaeus, 1758) tại tỉnh Nghệ An’’. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa về khoa học: Cung cấp thông tin khoa học về hiện trạng phân bố, số lƣợng quần thể và các tác động qua lại giữa quần thể Voi và cộng đồng địa phƣơng; mối đe dọa tới loài Voi tại Nghệ An.
- Ý nghĩa về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, Kiểm lâm địa bàn tại địa điểm nghiên cứu phục vụ tốt hơn cho quá trình quản lý, xây dựng cơ sở cho việc bảo tồn loài Voi (Elephas maximus) tại tỉnh Nghệ An. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu về loài Voi (Elephas maximus Linnaeus, 1758) 1. Nghiên cứu trên thế giới - Năm 1993, Ronglarp Sukmasuang Kasetsart thuộc Trƣờng Đại học tại Bangkok, Thái Lan đã tiến hành nghiên cứu sinh thái học của Voi châu Á ở khu Bảo tồn động vật hoang dã Huai Kha Khaeng tỉnh Uthai Thani và Tak,Thái Lan[45].
Kết quả cho thấy Voi thƣờng lựa chọn và sử dụng môi trƣờng sống của chúng liên quan đến sự thay đổi theo mùa của các loài lƣu giữ, các lớp phủ thực vật và nƣớc có sẵn. Diện tích đàn bình quân hàng năm là 5,40 con (5,38 vào mùa khô và 5,44 vào mùa mƣa). Mối quan hệ giữa loài Voi với các loài khác trong khu vực nghiên cứu nhƣ trâu, bò tót rất đa dạng, đặc biệt là sự cạnh tranh của nguồn thức ănvà nguồn nƣớc. Không có sự tàn phá các cây trồng nông nghiệp xung quanh khu bảo tồn động vật hoang dã của Voi trong thời gian nghiên cứu.
Năm 2013 RuvindaKasun deMel, Devaka Keerthi Weerakoon, Waniga- sekara Daya Ratnasooriya và Ashoka Dangolla của các trƣờng Đại học: Co- lombo và Peradeniya, Srilanka đã nghiên cứu huyết học của Voi châu Á đƣợc quản lý dƣới các điều kiện nuôi nhốt khác nhau ở Srilanka. - Năm 2015, Nagarajan Baskaran and Raman Sukuma là cộng tác động vật học thuộc Trung tâm Khoa học Sinh thái, Viện khoa học Ấn Độ[46], đã tiến hành nghiên cứu và đƣa ra đánh giá về hiện trạng hiện tại của Voi và môi trƣờng sống của chúng trong khu dự trữ sinh quyển Nilgiri, miền Nam của Ấn độ. Kết quả nghiên cứu đƣa ra một số khuyến nghị đáng quan tâm: Việc phát triển mới đƣờng cao tốc và đƣờng sắt không đƣợc cho phép thông qua môi trƣờng sống Voi đây là khuyến nghị quan trọng; cần khôi phục thảm thực vật 5 tự nhiên cần thiết cho môi trƣờng sống của Voi; Quản lý xung đột giữa Voi và con ngƣời thông qua sự tham gia của cộng đồng;. Nghiên cứu ở Việt Nam - Năm 2009, Nguyễn Mạnh Hà (Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng), Lê Thiện Đức (Chƣơng trình WWF Việt Nam) và các cộng sự đã tiến hành đánh giá về quần thể, vùng sống, sinh cảnh và khả năng bảo tồn quần thể Voi (Elephas maximus) ở tỉnh Đồng Nai.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Quần thể Voi ở Đồng Nai hoạt động chủ yếu ở ba kiểu sinh cảnh là : rừng hỗn giao lồ ô và rừng gỗ, rừng thƣờng xanh/bán thƣờng xanh và vùng rừng xen kẽ các diện tích nông nghiệp; dạng sinh cảnh mà Voi hoạt động cũng nhƣ kiếm ăn chính là kiểu rừng hỗn giao tre nứa, là dạng sinh cảnh phổ biến ở khu vực; Sự xuất hiện của Voi theo định kỳ ở các khu vực canh tác nông nghiệp và cây ăn quả, là sự lựa chọn sinh cảnh khác với quy luật hoạt động của Voi hoang dã vì chúng thƣờng có xu hƣớng hoạt động ở xa các khu vực có sự xuất hiện thƣờng xuyên của con ngƣời. - Võ Công Anh Tuấn, 2013 đã tiến hành nghiên cứu hiện trạng quần thể Voi châu Á ở Nghệ An và tình trạng xung đột giữa Voi và ngƣời dân. Tại thời điểm nghiên cứu, tỉnh Nghệ An có 13-16 cá thể Voi châu Á, phân bố ở 3 khu rừng đặc dụng (Vƣờn Quốc gia Pù Mát, Khu BTTN Pù Huống và khu BTTN Pù Hoạt). Sự xung đột giữa Voi và ngƣời dân xảy ra gây thiệt hại 500 triệu đồng, 1 ngƣời tử vong, 2 ngƣời bị thƣơng do Voi tấn công [36].
Đặc điểm nhận biết, sinh thái và tập tính của loài Voi châu Á Xem xét trên các tài liệu của Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998), Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009), các đặc điểm của loài Voi châu Á đƣợc mô tả nhƣ sau: 1. Đặc điểm nhận biết: 6 Bộ Voi (Proboscidea) hiện nay chỉ có 1 họ Voi (Elephantidae) với 2 giống: giống Loxodonta ở Châu Phi có 2 loài (L.cyclotis) và giống Elephas ở châu Á có 1 loài (Elephas maximus). Loài Voi châu Á là loài thú rất to lớn, nặng từ 3 – 6 tấn, dài thân 4 - 6m, dài đuôi 1 - 1,5m, cao vai 2,5 – 3m. Mũi và môi trên kéo dài thành vòi.
Vòi dài chấm đất. Chân trƣớc năm ngón, chân sau bốn ngón. Da dày, lông thƣa, màu xám hoặc nâu xám. Ngà của Voi đực dài thò ra khỏi môi, ngà của Voi cái rất ngắn (khoảng 30cm) nằm lấp trong môi.
Ngà của Voi đực già có thể dài tới 2m, một nửa thò ra khỏi môi và một nửa lấp trong môi. Ngà Voi phát triển liên tục suốt đời nên trong điều kiện nuôi ngà Voi thƣờng rất dài. Răng hàm mọc thành khối. Một số đặc điểm của Voi châu Á phân biệt với Voi châu Phi đó là: Tai của loài Voi châu Á nhỏ hơn, đầu gồ cao ở hai bên, chỉ con đực mới có ngà dài thò ra khỏi môi.
Trong khi đó, Voi châu Phi có tai rất lớn, đầu thuôn, cả con đực và con cái đều có ngà thò ra khỏi môi (hình 1. Voi châu Á lƣng cong hơn Voi châu Phi. Ở dƣới chân Voi châu Á có 4 móng ở chân sau thay vì 3 móng và 19 cặp xƣơng sƣờn thay vì 21 cặp ở Voi châu Phi. Ngoài ra, không giống nhƣ Voi châu Phi, Voi cái châu Á ngà không thò ra khỏi môi.
7 Voi châu Á (Elephas maximus) Voi châu Phi (Loxodonta africana) Hình 1.