MỞ ĐẦU Bộ Gà là một trong những bộ chim có vai trò quan trọng nhất thế giới (Del Hoyo et al., 1994; Zhang et al., 2003) bởi vì chúng mang đến nhiều giá trị cho con người như: được thuần hóa để làm vật nuôi, lấy thực phẩm, lấy lông, làm cảnh … (Fuller and Garson, 2000) hay nghiên cứu khoa học. Trên thế giới, bộ này chia thành 5 họ, tuy nhiên tại Việt Nam chỉ có một họ duy nhất là họ Trĩ (Phasianidae) với 20 loài (Lê Mạnh Hùng và cs. Bộ Gà chủ yếu là các loài chim cạn và sống ở nhiều dạng sinh cảnh khác nhau. Tất cả các loài trong bộ đều kiếm ăn chủ yếu trên mặt đất bằng cách dùng chân để cào bới (trừ một số loài trĩ thích dùng mỏ để đào).
Thức ăn chủ yếu gồm: hạt, quả rụng, hạt, rễ cây và động vật không xương sống. Chúng thường thích ngủ trên cây; làm tổ rất đơn giản trên mặt đất, đôi khi lót thêm lá hoặc cành cây, trứng có màu trắng hoặc đơn sắc. Trong số 20 loài gà được biết đến ở Việt Nam hiện có 15 loài có tên trong Sách Đỏ và các văn bản của Chính phủ để bảo vệ loài, cụ thể: 11 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007); 7 loài có tên trong Sách Đỏ thế giới (IUCN, 2021); 12 loài có tên trong Nghị định 84/2021/NĐ-CP và 7 loài có tên trong Nghị định 64/2019/NĐ-CP. Một số loài gà có kích thước quần thể nhỏ ngoài tự nhiên, đang bị săn bắt mạnh có nguy cơ bị tuyệt chủng và đang được bảo vệ cao trong các văn bản pháp luật như Gà lôi tía (Tragopan temminckii), Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini), Gà tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum), Trĩ sao (Rheinardia ocellata) và Công (Pavo muticus).
Hầu hết các loài gà đều có giá trị về mặt thực phẩm và nhiều loài có giá trị bảo tồn cao nên bộ Gà là một trong 24 bộ chim cần được ưu tiên bảo tồn. 2 Khu BTTN Ea Sô được công nhận là một trong số các vùng chim quan trọng tại Việt Nam do có tầm quan trọng quốc tế trong công tác bảo tồn chim (Tordoff, 2002). Tại đây ghi nhận 173 loài chim, trong đó có nhiều loài quý hiếm như như Công Pavo muticus, Bồ câu nâu Columba punicea, Gà tiền mặt đỏ Ployplectron germaini (Brickle et al. Cho đến nay những thông tin về các loài chim trong bộ Gà còn rất ít, do chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể.
Do đó, đứng trước những áp lực ngày càng lớn cho sự tồn tại của các loài động vật nói chung, trong đó có các loài gà nói riêng tại KBT, việc đẩy mạnh những điều tra, giám sát về hiện trạng quần thể và phân bố loài là rất cần thiết. Với mong muốn được góp phần nghiên cứu và bảo tồn các loài chim thuộc bộ Gà tại KBTTN Ea Sô, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và phân bố của các loài chim trong bộ Gà (Galliformes) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, tỉnh Đắk Lắk, nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn”. Số liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm thông tin về hiện trạng, phân bố và các mối đe dọa đến các loài chim thuộc bộ Gà tại khu vực nghiên cứu, là cơ sở khoa học cho việc đưa ra các giải pháp quản lý bảo tồn không chỉ với các loài gà nguy cấp, quý hiếm mà còn đóng góp quan trọng trong mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các loài động thực vật, nguy cấp quý hiếm tại khu vực. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Giới thiệu về Bộ Gà Bộ Gà là một trong những bộ chim có vai trò quan trọng nhất thế giới (del Hoyo et al., 1994; Zhang et al., 2003) bởi vì chúng mang đến nhiều giá trị cho con người như: được thuần hóa để làm vật nuôi, lấy thực phẩm, lấy lông, buôn bán (Fuller and Garson, 2000) hay nghiên cứu khoa học. Theo số liệu mới nhất của Danh sách chim thế giới (IOC World Bird List) (2022), bộ được chia thành 5 họ gồm: Trĩ (Phasianidae), Gà phi (Nimididae) và Cút tân thể giới (Odontophoridae), Cracidae và Megapodiidae với tổng số khoảng 302 loài, chúng có thể được tìm thấy ở khắp các lục địa trên thế giới, trừ Nam Cực (Boakes, 2020). Trong đó, họ Trĩ có số loài đa dạng nhất (185 loài), tiếp theo lần lượt là họ Cracidae (56 loài), Cút tân thế giới (34 loài), Megapodiidae (21 loài) và Gà phi (6 loài). Các loài trong bộ Gà có kích thước từ cỡ nhỏ đến cỡ lớn (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998).
Đầu nhỏ, cánh ngắn và tròn. Các loài gà bay nhanh nhưng dáng nặng nề và không bay được xa. Chân to, khỏe có 4 ngón. Ngón có vuốt to, thích bới đất tìm mồi.
Mỏ kiểu ăn tạp, ngắn, khỏe, hơi cong, mỏ trên chùm lên một phần mỏ dưới. Màu lông thay đổi, thường con trống có màu sắc sặc sỡ. Theo tài liệu của Brain (2009), bộ Gà chủ yếu là các loài chim cạn và sống ở nhiều dạng sinh cảnh khác nhau. Tất cả các loài trong bộ đều kiếm ăn chủ yếu trên mặt đất bằng cách dùng chân để cào bới (trừ một số loài trĩ thích dùng mỏ để đào).
Thức ăn chủ yếu gồm: hạt, quả rụng, hạt, rễ cây và động vật không xương sống. Chúng thường thích ngủ trên cây (trừ một số loài sống ở các sinh cảnh ít cây như lãnh nguyên, đồng cỏ hoặc sa mạc). Các loài gà thường làm tổ rất đơn giản trên mặt đất, đôi khi lót thêm lá hoặc cành cây, trứng có màu trắng hoặc đơn sắc. Đa số các loài đẻ 5 – 10 trứng.
Chim 4 mái ấp trứng. Chim non nở ra khỏe. Theo Nguyễn Cử và cs (2005), các loài gà thường thích chạy trốn nguy hiểm hơn là bay. Gà thường sống chui lủi và khó quan sát.
Hầu hết các loài gà có tiếng kêu vang xa nên dễ nhận biết. Bộ Gà có vị trí quan trọng trong nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã (McGowan and Garson, 1995; McGowan et al., 2012) bởi chúng có mối liên hệ mật thiết với con người và các nhóm động vật, chim thường được chọn làm đối tượng nghiên cứu (del Hoyo et al., 1994; Fuller and Garson, 2000). Từ năm 1975, các nghiên cứu về bộ Gà được đẩy mạnh sau sự thành lập của Hiệp hội Gà lôi thế giới (World Pheasant Association – WPA) (Tang, 1990; Moss et al., 2010) và do số lượng các loài bị đe dọa đang tăng lên (trên 25%) (IUCN, 2019), thậm chí nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng (Boakes et al. Trong thời gian gần đây, rất nhiều công nghệ (ví dụ như xét nghiệm DNA hay thụ tinh nhân tạo) cũng được giới thiệu và ứng dụng trong các nghiên cứu về bộ Gà (Gee, 1983; Hennache, 2009).
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về bộ Gà trong những năm gần đây nhưng đa số chỉ tập trung vào một chủ đề (ví dụ như phân loại hoặc phát hiện loài mới) (Crowe et al., 2006; Zheng, 2015) hoặc một loài cụ thể (Moss et al., 2010), những nghiên cứu về tình trạng và phân bố toàn cầu của bộ Gà còn hạn chế. Bên cạnh việc bị săn bắt, rất nhiều quần thể gà bị ảnh hưởng bởi hiện tượng mất sinh cảnh sống (Lawes et al., 2006; Zhou et al, 2015a), sự xáo trộn của con người (Storch, 2013) và đô thị hóa (McNew and Sandercock, 2013). Cụ thể một số quần thể loài bị suy giảm nghiêm trọng như: Trĩ hoàng đế (Syrmaticus reevesii), Gà lôi tây tạng (Crossoptilon harmani) (Rhim, 2010; Zhou et al. Giới thiệu về Họ Trĩ 1.
Trên thế giới Trĩ là một họ chim nặng ký, sống trên mặt đất, gồm các loài tiêu biểu 5 như: Trĩ, Công, Cút, Gà gô, Gà nhà, Gà rừng, Gà so, Gà gô, … Đây là họ lớn nhất của bộ Gà gồm 184 loài, 54 chi (Gill et al, 2021), trong đó rất nhiều loài được con người sử dụng với nhiều mục đích khác nhau trong đời sống hàng ngày (thực phẩm, giải trí, thương mại, …) (McGowan and P. Họ được chia thành 2 phân họ là Trĩ (Phasianinae) và Gà gô hay Gà so (Perdicinae). Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, xuất hiện nhiều bàn cãi về việc chia họ Trĩ thành ba phân họ là Rollulinae, Phasianinae và Pavoninae. Các loài trong họ Trĩ đều sống trên mặt đất.
Loài có kích thước nhỏ nhất là Chim cút ngực lam (nặng: 43g; dài: 12,5cm) và loài có kích thước lớn nhất là Công lam ấn độ (nặng: 6kg; dài: 300cm) (McGowan,1994; Harper, 1986). Đối với các loài có kích thước lớn, con cái thường lớn hơn con đực. Chúng thường phát triển về chiều rộng, có đôi cánh ngắn, chân khỏe. Nhiều loài có 1 đến 2 cựa ở mỗi chân.
Họ Trĩ phân bố từ Châu Âu, Châu Á (Trừ vùng cực Bắc), Châu Phi (Trừ sa mạc) và đến đông Úc. Đa dạng loài lớn nhất tại đông nam Châu Á và Châu Phi. Các loài trong họ có chế độ dinh dưỡng khác nhau, từ thức ăn thuần túy thực vật như hạt, lá, quả, củ, rễ hoặc các loài động vật nhỏ như côn trùng, sâu bọ và cả những loài bò sát nhỏ. Phần lớn các loài có chế độ đa phu hoặc đa thê.
Chúng thường làm tổ trên mặt đất bằng cách đắp ụ bằng lá cây hoặc đào bới nông vào lòng đất. Chúng có thể đẻ tới 18 trứng mỗi tổ, nhưng thông thường chỉ 7-12 quả, với số lượng nhỏ hơn thấy ở các loài vùng nhiệt đới. Việc ấp trứng gần như chỉ do con mái đảm nhiệm và chu kỳ này kéo dài khoảng 14-30 ngày, phụ thuộc vào từng loài. Tại Việt Nam Theo Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011), tại Việt Nam có 24 loài chim họ Trĩ đang sống ngoài tự nhiên.
Tuy nhiên, dựa vào các nghiên cứu trong thời gian gần đây về đặc điểm phân loại và tham khảo 6 các tài liệu đã xuất bản như Chim Việt Nam (Nguyễn Cử và cộng sự, 2000, 2005), Sách hướng dẫn định loại thực địa các loài chim Đông Nam Á (Craig Robson, 2000, 2005, 2009; Richard & Le Quy Minh, 2018) và các báo cáo kỹ thuật của Tổ chức bảo tồn chim quốc tế Chương trình Việt Nam, các ghi nhận trong các loài công bố của tạp chí Forktail, BirdngAsia.v, Lê Mạnh Hùng và cs (2020) đã điều chỉnh số loài trong họ Trĩ xuống còn 20 loài. Một số loài đã được xác nhập hoặc giản lược so với Danh lục chim Việt Nam của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) bao gồm: Gà so ngực vàng (Arborophila chloropus), Gà so trung bộ (Arborophila merlini), Gà lôi lam mào đen (Lophura imperialis) và Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis).