Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Các nghiên cứu liên quan tới việc thành lập KBT và VQG Sau nhiều thập kỷ, rừng trên thế giới bị xâm hại dẫn đến diện tích bị thu hẹp, chất lượng bị giảm sút (dẫn theo Bùi Minh Tân, 2009) [19]. Cộng đồng thế giới đã có nhiều biện pháp bảo tồn và công tác bảo tồn rừng đã trở thành vấn đề bức xúc.
Những quy định về pháp luật ngày càng hoàn thiện, công tác đầu tư phương tiện, thiết bị, con người được quan tâm. Mặc dù cũng rất cố gắng nhưng rừng vẫn bị tàn phá ngày càng gia tăng. Năm 1872, VQG đầu tiên trên thế giới được thành lập tại Hoa Kỳ, đó là VQG Yellowstone. Dựa trên mô hình của Hoa Kỳ, nhiều KBT và VQG được thành lập ở các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý “ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào KBT, VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó”.
Điều đó dẫn đến những hậu quả tất yếu làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương, KBT và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được [18]. Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp, vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận các nguồn TNR, trong khi ấy sự phụ thuộc của họ vào rừng là rất lớn (Lê Sỹ Trung, 2005) [26]. Tuy vậy, các KBT và VQG đều được thiết lập chủ yếu vì mục đích quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương. Tại hội nghị Liên hiệp quốc tế và Môi trường và phát triển bền vững tại Rio De Janeiro (Braxin) (6/1992), vấn đề về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã chính thức được công nhận.
Hội nghị đã đưa ra một kế hoạch hành động cải thiện sinh kế của người dân trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác (Trần Ngọc Lan, 1999) [13]. 4 Cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 80. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBT và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định. Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hóa của người dân địa phương.
Ở VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý. Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn bó với săn bắn cổ truyền [18]. Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của người dân trong các KBT và VQG Ở Châu Á, sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả. Lý do để khuyến khích sự tham gia này là nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội.
Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này [26]. Trong tác phẩm “Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ” của Gadgil và VP. Vartok năm 1976 cho rằng: Các đám rừng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây đã được người dân địa phương ở Ấn Độ bảo vệ. Người dân không được phép lấy bất kỳ một sản phẩm nào từ đây.
Những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên dù nạn phá rừng ngày càng tăng và trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản 5 phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô… Mặc dù đã bị cấm nhưng đôi khi người dân vẫn vào rừng khai thác gỗ trộm (FAO, 1996) (dẫn theo Trần Ngọc Thể, 2009) [20]. Ở Thái Lan, hệ thống quản lý khu bảo vệ trước đây đã nhấn mạnh các quyền sở hữu và kiểm soát rừng của Nhà nước mà không chú ý tới ảnh hưởng giữa con người và các nguồn tài nguyên, đã dẫn tới những thất bại vì tỉ lệ phá rừng hàng năm ở nước này vẫn ở mức cao. Một nghiên cứu tại vùng đệm của khu bảo tồn động vật hoang dã Phu Kheio, Đông Bắc Thái Lan đã đưa một cách tiếp cận mới để quản lý trên cơ sở thu hút sự tham gia của người dân địa phương trong quá trình bảo tồn. Kết quả thảo luận ở đây cũng đã khẳng định rằng, có một cơ hội để tạo ra một sự hiểu biết tốt hơn giữa người dân nông thôn về tầm quan trọng của trồng rừng và bảo tồn thiên nhiên sẽ dẫn đến một cách quản lý tốt hơn các nguồn tài nguyên trong tương lai [31].
Cũng tại Thái Lan, trong báo cáo “Liên minh cộng đồng: Đồng quản lý rừng ở Thái Lan” của Poffenberger, M. và McGean, B( 1993) đã có nghiên cứu điểm tại VQG Dang Yai nằm ở Đông bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan. Tại Dang Yai, cùng với việc phối hợp với cục lâm nghiệp Hoàng gia người dân đã rất thành công trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn và xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái đồng thời phục vụ lợi ích của họ trong khu vực. Tại Nam Sa cộng đồng người dân đã chứng minh được khả năng trong công tác quản lý rừng phòng hộ.
Họ khẳng định chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát tài nguyên rừng nếu chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực [23]. Trong tác phẩm “Thay đổi và NLKH bản địa” của Colfer.P (1980) tại Đông Kalimamtan. Qua nghiên cứu việc thu hái lâm sản phụ của người dân địa phương, tác giả đã nhận định rằng những sản vật đó được coi như là những mặt hàng không phải trả tiền, ai cũng có thể thu lượm được. Tuy nhiên, những quyền đó không được quy định cụ thể, nó đã trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng gỗ làm nhà, có lúc dùng để biện hộ cho việc thu hoạch gỗ và bán (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007) [27, tr.Thinley và Wangchuks lại cho rằng: Rừng là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp gỗ củi, chăn thả và chuồng trại cho gia súc.
Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng đất dốc (FAO, 1996) [27]. Theo Nick Salafky và các đồng sự (trong BiodIIIersity Support Program Washington, DC, USA, 2000) cho rằng vào những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu về lợi ích kinh tế và bảo tồn. Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các hoạt động sinh kế độc lập và có mối liên hệ trực tiếp với bảo tồn. Đặc điểm cơ bản của chiến lược này là mối liên hệ giữa ĐDSH và con người xung quanh.
Các chủ thể địa phương có cơ hội hưởng lợi ích trực tiếp từ ĐDSH và như vậy sẽ có thể hạn chế được các tác nhân gây hại từ bên ngoài đối với ĐDSH. Sinh kế sẽ giúp cho bảo tồn ĐDSH chứ không phải cạnh tranh với nhau. Hơn nữa chiến lược này công nhận vai trò của người dân địa phương trong bảo tồn ĐDSH. Cũng trong chiến lược này, các nhà bảo tồn có thể giúp cho người dân địa phương khai thác sử dụng LSNG hoặc phát triển du lịch sinh thái [23].
Tại Việt Nam 1. Hệ thống chính sách và các vấn đề liên quan đến rừng đặc dụng Việc đầu tư quản lý bảo vệ và phát triển các khu RĐD được nhà nước ngày càng quan tâm. Hiện nay, hệ thống KBTTN của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn Quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu Bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng, miền cả nước [23]. Tháng 7/1962, theo Quyết định số 72/TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập khu rừng cấm Cúc Phương rộng 25.
Các năm sau đó, Chính phủ còn ra các quyết định thành lập các khu rừng cấm Nam Cát Tiên (1978); KBTTN Mom 7 Rây - Ngọc Linh (1982); VQG Côn Đảo (1984); VQG Cát Bà (1987); VQG Yokdon (1991); KBTTN đất ngập nước Xuân Thủy (1994); KBTTN Tràm Chim Tam Nông (1994)… Bên cạnh những thành công những đóng góp tích cực của hệ thống RĐD này đối với việc bảo vệ môi trường và ĐDSH toàn cầu thì chúng đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm ĐDSH do tác động của nhiểu yếu tố [4]. Công tác bảo tồn phải được thực thi trên cơ sở các quy định pháp luật. Luật BVPTR sửa đổi ban hành ngày 03/12/2004, Quyết định số 08/2001/QĐ -TTg ban hành ngày 11/01/2001 đã đề cập đến việc BQL xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT, VQG. Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 186/2006/QĐ – TTg về quy chế quản lý rừng, thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ – TTg trong đó quản lý RĐD được quy định rất rõ [3] cụ thế: Rừng đăc dụng bao gồm các loại: VQG, KBTTN, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học [22, tr.
Trong VQG và KBTTN được chia thành 3 phân khu chức năng chính sau: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái, phân khu dịch vụ - hành chính [22, tr. VQG và KBTTN phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng.