Chương 1 QUAN NIỆM TRIẾT HỌC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI TỰ NHIÊN 1. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong lịch sử tư tưởng trước Mác 1.1 Triết lý hoà hợp với tự nhiên trong quan niệm truyền thống phương Đông Phương Đông là một vùng văn hoá lâu đời với trung tâm là Ấn Độ và Trung Quốc, hai trong số những nền văn minh sớm nhất, rực rỡ nhất của nhân loại. Hình thành ở lưu vực của những con sông lớn, dựa trên nền sản xuất nông nghiệp chủ yếu trồng lúa nước trong điều kiện khoa học, kỹ thuật chậm phát triển, cuộc sống của các cộng đồng cư dân phương Đông phần lớn dựa vào những yếu tố tự nhiên có sẵn như nguồn nước dồi dào, đất đai màu mỡ, phì nhiêu, hệ động thực vật giàu có. Đây chính là cơ sở của nếp sống cộng đồng gắn bó vô cùng mật thiết với thiên nhiên của người dân phương Đông.
Từ cuộc sống bình dị mà phong phú, đa dạng ấy đã sớm hình thành những quan niệm hết sức sâu sắc về vũ trụ, về con người và mối quan hệ qua lại giữa chúng. Những quan niệm này ngày càng được phát triển và phổ biến, trở thành truyền thống, trở thành triết lý sống hoà hợp với tự nhiên của phương Đông. 7 z Tam tài, mô hình vũ trụ độc đáo của người Trung Quốc nói riêng, người phương Đông nói chung, là điểm xuất phát của triết lý hoà hợp với tự nhiên. Tam tài là bộ ba điển hình nhất mô tả cấu trúc không gian vũ trụ bao gồm ba thành tố Thiên - Địa - Nhân có quan hệ chặt chẽ tạo thành một chỉnh thể.
Trong tam tài, con người là một bộ phận không thể tách rời của trời đất. Con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên một cách trừu tượng mà được cụ thể hoá là kết quả của sự giao cảm giữa trời và đất, giữa âm và dương. Con người là hiện thân của trời đất, trời đất thu nhỏ trong con người. Mỗi con người là một vũ trụ thu nhỏ trong vũ trụ bao la.
Từ một điểm xuất phát là tam tài, đã hình thành hai khuynh hướng khác nhau trong quá trình phát triển. Khuynh hướng tích cực xem con người ở vị trí trung tâm của vũ trụ. Mặc dù con người là một bộ phận của tự nhiên nhưng con người không nhỏ bé, không hoà tan hoàn toàn vào tự nhiên. Con người đứng giữa đất trời, hiện lên giữa đất trời với tầm vóc chân đạp đất, đầu đội trời, nhưng con người không đối lập với đất trời.
Bởi vì giữa người và trời là “thiên nhân hợp nhất” hay “thiên nhân tương dữ”, “thiên nhân cảm ứng”, tức là giữa người và trời có thể tương cảm, giao cảm lẫn nhau. Khổng Tử cho rằng nếu “người bẩm thụ được cái “tính” của trời thì đạo của trời tức là đạo của người” [26; 212]. Như vậy con người hoàn toàn có thể hiểu được, “cảm” được “đạo trời”. Con người không hoạt động tuỳ tiện cũng không hoàn toàn thụ động mà có thể biến “đạo của trời” thành “đạo của người” nếu con người cảm được “đạo trời”, thuận theo “đạo trời” mà hành động.
Như vậy là bằng sự nỗ lực, quyết tâm, con người có thể "cảm" được "đạo trời", biến "đạo của trời" thành "đạo của người" tức là khi đó "nhân định thắng thiên". Theo quan điểm này con người không hoàn toàn nhắm mắt theo "thiên mệnh", cũng không thể đi ngược lại"đạo trời" mà phải theo đó mà hành động. Vì vậy, người phương Đông cho rằng để đạt tới thành công 8 z trong bất kỳ hoạt động nào cũng cần hội tụ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” mà con người phải tính tới. Mặc dù quan niệm này được xây dựng dựa trên trực giác của người phương Đông và không khỏi mang tính cảm tính nhưng đây là một khuynh hướng tích cực, tiến bộ.
Nó hoàn toàn không xa lạ với nguyên tắc căn bản trong quan điểm mác xít về sự nhận thức và hành động theo quy luật của giới tự nhiên mà chúng ta sẽ xem xét ở phần sau. Một khuynh hướng khác lại cho rằng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” trong đó “thiên” vừa được xem như một lực lượng thiên nhiên bên ngoài, vừa như ông Trời. "Thiên mệnh" là số phận của mỗi người như một kịch bản viết sẵn, một trật tự bất biến. Con người là nô lệ của "thiên mệnh" và phải nhắm mắt thuận theo " thiên mệnh".
Cùng chung tinh thần thụ động trên, triết học Ấn Độ cổ đại cho rằng mối quan hệ giữa con người và vũ trụ là mối quan hệ giữa tiểu ngã và đại ngã, giữa bộ phận và toàn thể, vừa đồng nhất, vừa khác biệt, như không khí trong bình và không khí ngoài trời, như sóng biển với biển. Cái tiểu ngã thì nhất thời hữu hạn, cái đại ngã thì vĩnh hằng bất biến. Vì vậy mục đích của con người là phải làm điều thiện, điều tốt để trở về với đại ngã, cội nguồn mà mình đã sinh ra. Mặc dù đây là những quan niệm thể hiện thế giới quan duy tâm, tôn giáo nhưng đều hướng con người tới sự hoà hợp với tự nhiên, tôn trọng giới tự nhiên từ việc tôn trọng những sinh linh bé nhỏ nhất.
Quan niệm về bản chất con người cũng là cơ sở hình thành triết lý về sự hoà hợp giữa con người với tự nhiên. Hầu hết các học thuyết phương Đông đều cho rằng con người là kết quả của sự hoà hợp các yếu tố trong trời đất mà thành. Con người chỉ là sự hợp tan của ngũ uẩn, năm yếu tố vật chất và tinh thần trong vũ trụ. Sự tồn tại, vận động của con người cũng như vạn vật, cỏ cây đều phải tuân theo những quy luật phổ biến của vũ trụ, đều nằm trong vòng chuyển biến 9 z bất tận của “luân hồi”, của “đạo”.
Bởi vậy không thể có sự đối lập nào giữa con người và vạn vật. Sách Lễ ký của Nho gia có viết: con người là đức của trời đất, là điểm giao nhau của âm dương, là chỗ hội tụ của quỷ thần, là khí tốt lành của ngũ hành. Chính vì vậy bản chất ban sơ của con người là thiện, là hài hoà, hoà hợp với mình, với người, với thế giới xung quanh. Lão Tử trong Đạo đức kinh cho rằng: con người từ đạo sinh ra và bị chi phối bởi đạo.
Thuận theo “đạo trời” (đạo của tự nhiên) là phải “vô vi”, sống tự nhiên, thuần phác, đừng làm gì trái với bản tính tự nhiên của đạo. Hãy trở về với tự nhiên, hãy trả cho con người bản tính tự nhiên vốn có. Quan niệm này về sau được Trang Tử đẩy đến cực đoan theo tinh thần tuyệt đối hoá bản tính tự nhiên của con người tách khỏi những quan hệ xã hội. Trang Tử chủ trương “thoát tục”, “thuận theo tự nhiên”, coi “trời đất với ta cùng là một”.
Tóm lại, truyền thống hoà hợp với tự nhiên chủ yếu xem con người là bộ phận của tự nhiên, coi trọng mặt thống nhất trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, từ đó dẫn đến thái độ tôn trọng tự nhiên và mô phỏng trật tự của tự nhiên. Đây là một truyền thống đáng quý. Nó tạo nên tâm hồn, tình cảm, nét văn hoá phong phú, sinh động, độc đáo của phương Đông. Đó là cơ sở để hình thành nếp sống, nếp nghĩ với tình cảm yêu thiên nhiên, gắn bó với tự nhiên, với con người, cần được kế thừa và phát triển trong điều kiện mới.
Tuy nhiên nếu xu hướng này bị đẩy tới cực đoan sẽ hạn chế khả năng sáng tạo và những sức mạnh to lớn trong việc tác động cải tạo giới tự nhiên của con người mà theo Ph. Ăngghen, chính điều đó lại là cái phân biệt chủ yếu giữa con người với động vật.2 Triết lý chinh phục tự nhiên trong quan niệm truyền thống phương Tây Khái niệm “Phương Tây” được dùng để chỉ vùng văn hoá có khởi nguồn từ văn hoá Hy Lạp - La Mã, sau mở rộng ra các nước Âu - Mỹ và các nước chịu 10 z ảnh hưởng của văn hoá Âu - Mỹ. Nét đặc trưng của văn hoá phương Tây trong việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là thiên về tìm hiểu, khám phá, chinh phục tự nhiên. Tinh thần chủ động tích cực ấy có cội nguồn sâu xa từ truyền thống tôn vinh con người đã xuất hiện ngay từ thời kỳ cổ đại.
Đại biểu cho khuynh hướng đề cao con người trong triết học Hy - La cổ đại, trước hết phải kể đến Prôtago. Khi đề cập đến vấn đền chân lý, ông đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Con người là thước đo của mọi vật”. Theo Prôtago, chuẩn mực để đánh giá mọi vấn đề chính là ý kiến cá nhân của chủ thể. Tư tưởng đề cao con người được Xôcrát phát triển tới đỉnh cao.
Bắt đầu từ Xôcrát, vấn đề con người trở thành trọng tâm nghiên cứu của triết học. Theo ông, triết học không phải là gì khác hơn sự nhận thức của con người về chính bản thân mình. Xôcrát đề cao năng lực tư duy, năng lực suy nghĩ của con người, cái mà nhờ đó con người khẳng định vị trí trung tâm của vũ trụ. Ông bổ sung thêm vào luận điểm của Prôtago: “Con người với tư cách là kẻ biết suy nghĩ mới là thước đo của mọi vật”.
Với luận điểm nổi tiếng “con người hãy nhận thức chính mình” ông được xem là cội nguồn của chủ nghĩa hiện sinh hiện đại, một khuynh hướng triết học đi sâu vào đời sống nội tâm của cá nhân con người, đẩy sự sáng tạo tự do cá nhân lên tới cực đoan vượt qua mọi giới hạn. Lịch sử Tây Âu suốt thời kỳ Trung cổ chịu sự thống trị của tinh thần Kitô giáo về sự sáng tạo của Thượng đế. Luận thuyết này cho rằng Chúa đã sáng tạo ra thế giới, vạn vật và con người. Con người là đỉnh cao của sự sáng tạo nên bản thân con người cũng có tính sáng tạo.
Spirkin cho rằng: “Kitô giáo thần thánh hoá nhân cách tuyệt đối của tạo hoá và bằng cách đó cũng thần thánh hoá cả con người như là hình ảnh đồng dạng của tạo hoá” [40; 188]. Mặc dù dưới hình thức hư ảo và thần bí nhưng những quan niệm tôn giáo này, trong một 11 z chừng mực nhất định, đã tạo cho con người lòng say mê và sự tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh bản thân, kích thích thái độ tích cực của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới. Bước sang thời kỳ Phục hưng và Cận đại, sự phát triển nhảy vọt của sản xuất và khoa học đã chứng minh sức mạnh vĩ đại của con người.