Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm thảm thực vật Thảm thực vật là khái niệm được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau. Theo Trần Đình Lý (1988) thì thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ trên bề mặt trái đất [31].
Ở các khái niệm trên, thảm thực vật mới chỉ là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đặc trưng, phạm vi không gian hay chưa xác định một đối tượng cụ thể nào. Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm như: Thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn, thảm thực vật rừng nhiệt đới,. Khái niệm hệ thực vật Khái niệm hệ thực vật nói chung, áp dụng cho các tổ hợp các loài thực vật, được giới hạn theo nguyên tắc địa lý nó là toàn bộ các loài thực vật hiện có của một vùng, một nước khác. Ví dụ hệ thực vật miền bắc và miền trung Liên Xô thuộc Châu Âu, hệ thực vật Việt Nam,.
cũng có thể gọi như vậy về thực vật. Braxin, các hệ thực vật riêng rẽ của từng bang, rõ ràng những hệ thực vật này khác nhau về mặt vị trí địa lý, diện tích, số lượng loài,. có thể so sánh chung với nhau, nhưng đó là sự so sánh không “ngang giá”, bởi vì các hệ thực vật được so sánh hoàn toàn không có sự đồng nhất về điều kiện địa lý tự nhiên ở cùng cấp phân vị (Lê Trần Chấn, 1990 [6]). 4 Khái niệm hệ thực vật trong Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (2002): Hệ thực vật (còn gọi khu hệ thực vật) là toàn bộ các chi, loài thực vật sống trong một khu vực địa lý, một thời kỳ lịch sử địa chất.
Hệ thực vật khác với thảm thực vật, hệ thực vật mang hàm ý về thành phần giống loài, còn thảm thực vật chỉ sự tập hợp mọi thành phần thực vật [22]. Nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam 1. Nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới Đã có nhiều nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới. Dựa vào nhiệt độ Champion H.
Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: Loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2014 [43]). Dựa trên hình thái cấu trúc ngoại mạo, Fosberg (1958) đã đề xuất hệ thống phân loại chung cho thảm thực vật rừng nhiệt đới gồm: Lớp quần hệ, quần hệ và quần hệ phụ (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004 [42]). Thảm thực vật Đông Dương được chia thành ba vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian (Maurand, 1943) [50]. Ông đã thống kê 8 kiểu quần lạc trong khu vực đó.
Tuy nhiên, nhược điểm chính của các hệ Thống phân loại thảm thực vật này là chúng quá sơ lược hoặc chưa làm nổi bật mối quan hệ giữa các nhân tố sinh thái. Theo Schmithusen (1959) [39], thảm thực vật trên Trái Đất có 9 lớp quần hệ: Lớp quần hệ rừng, quần hệ cây bụi, quần hệ savan và đồng cỏ, quần hệ đồng cỏ, quần hệ cây bụi nhỏ và cây nửa bụi, quần hệ thực vật sống một năm, quần hệ hoang mạc, quần hệ thực vật hồ nước nội địa, quần hệ thực vật biển. 5 Dựa trên nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, UNESCO (1973) [53] chia thảm thực vật Thế giới thành 5 lớp quần hệ: Lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần hệ cây bụi lùn, lớp quần hệ cỏ. Nghiên cứu thảm thực vật ở Việt Nam Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [42], nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam trước năm 1960 chủ yếu do các tác giả người nước ngoài như Chevalier (1918), Maurand (1943), Dương Hàm Hy (1956), Rollet, Lý Văn Hội và Neay Sam Oil (1958).
Năm 1960, Loschau đưa ra một khung phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh, gồm 4 trạng thái như sau: Loại 1: Gồm những đất đai hoang trọc, trảng cỏ và trảng cây bụi. Loại 2: Gồm những rừng non mới mọc. Loại 3: Gồm tất cả các rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ. Loại 4: Gồm những rừng nguyên sinh chưa bị khai phá.
Đây là hệ thống phân loại rừng đã được áp dụng khá rộng rãi ở nước ta trong điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo trạng thái. (1974) dựa trên các nhân tố sinh thái đã mô tả các đơn vị thảm thực vật Việt Nam theo các sinh khí hậu khác nhau bao gồm: Sinh khí hậu nửa khô nóng, sinh khí hậu ẩm gần núi, sinh khí hậu luôn ẩm vùng núi. Trần Ngũ Phương (1970) [35], xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc nước ta đã chú ý đến việc nghiên cứu quy luật diễn thế thứ sinh, diễn biến độ phì, các tính chất lý, hóa và dinh dưỡng của đất qua các giai đoạn phát triển của rừng. Bảng phân loại gồm có các đai rừng là: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao, trong mỗi đai lại được phân ra thành các kiểu rừng khác nhau.
Thái Văn Trừng (1978) [46], dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh đã xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam. Trong hệ thống này tác giả đã sắp xếp các kiểu thảm thực vật hiện có ở Việt Nam vào một khung hợp lý, có trật tự trước sau giữa các nhân tố sinh thái, đồng thời theo trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu kém nhất, đáp ứng được quy hoạch sinh thái. Tuy nhiên, theo tác giả thì 6 bảng phân loại này có hạn chế là mang tính chất địa phương của một vùng hay một nước. Bảng phân loại được chia thành 2 nhóm: Đai thấp gồm các kiểu TTV có độ cao dưới 1000m ở miền Nam và dưới 700m ở miền Bắc; đai cao gồm các kiểu TTV có độ cao trên 1000m ở miền Nam và trên 700m ở miền Bắc, trong mỗi nhóm lại được chia thành các kiểu rừng khác nhau.
Phan Kế Lộc (1985) [27] dựa trên khung phân loại của UNESCO (1973) đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam có thể thể hiện được trên bản đồ tỷ lệ 1:2. Bảng phân loại gồm 5 lớp quần hệ: Lớp quần hệ rừng rậm, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ trảng cây bụi, lớp quần hệ trảng cây bụi lùn, lớp quần hệ trảng cỏ. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) [42], đã xây dựng hệ thống phân loại thảm thực vật Vườn Quốc gia Pù Mát (Nghệ An),…; Ngoài ra, trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu về thảm thực vật ở các địa phương, ở các Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên như Trần Đình Lý (1995) [29]… 1. Nghiên cứu hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam 1.
Nghiên cứu về hệ thực vật ở thế giới Bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” do Lecomte H. chủ biên năm (1907-1952) [51] được công bố những năm đầu thế kỷ XX. Công trình nổi tiếng này đã đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam. Tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên khoảng 240 họ, lập khoá mô tả khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương.
Bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 1997) [51] cùng với nhiều tác giả khác. Đến nay đã công bố 29 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có. Năm 1965, Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng 300.000 loài thực vật Hạt kín; 5.000 loài thực vật Hạt trần; 6.000 loài Quyết thực vật; 14. Long chun và cộng sự (1993) nghiên cứu về đa dạng thực vật sau nương rẫy tại Xishuang Banna tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đã kết luận: Khi nương 7 rẫy bị bỏ hoang 3 năm thì có 17 họ, 21 loài thực vật; bỏ hóa 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài (dẫn theo Ma Thị Ngọc Mai, 2007 [32]).
Nhiều bài báo khoa học, các hội thảo đã được tổ chức để thảo luận về quan điểm, phương pháp luận đồng thời phân tích kết quả đã đạt được trong nghiên cứu về đa dạng sinh học và bảo tồn trên toàn thế giới. Kết quả của các nghiên cứu được công bố đã thiết lập cơ bản một hệ thống thông tin đa dạng sinh học trên khắp thế giới. Kết quả này đã góp phần nâng cao nhận thức về đa dạng sinh học và bảo tồn, đề ra giải pháp khôi phục một số hệ sinh thái, hệ thực vật trong lãnh thổ quốc gia. Nghiên cứu hệ thực vật ở Việt Nam Nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam có từ khá sớm bởi các tác giả Loureiro (1790), Pierre (1879 - 1907).
Đầu thế kỷ XX, Lecomte [51] cùng các tác giả khác đã biên soạn bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương gồm 7 tập (1907 -1952). Aubréville (chủ biên), đã công bố bộ Thực vật chí Camphuchia, Lào và Việt Nam có 29 tập gồm 74 họ thực vật có mạch. Lê Khả Kế (1969 - 1973) [23] xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập. Viện Điều tra quy hoạch rừng xuất bản cuốn “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn “Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam”.
Phan Kế Lộc (1970) [25] đã nghiên cứu và có bổ sung nâng số loài thực vật ở miền Bắc lên 5.660 chi và 140 họ. Năm 1978 [26] ông đã xác định được 20 loài cây có tanin thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tanin. Thái Văn Trừng (1978) [46] đã thống kê hệ thực vật Việt Nam, gồm 7. Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) [3] đã thống kê được 3.210 loài, số loài này chiếm ½ tổng số loài đã biết ở toàn Đông Dương khi nghiên cứu về hệ 8 thực vật Tây Nguyên.
Phạm Hoàng Hộ (2003) [16] có bộ Cây cỏ Việt Nam, tác giả đã thống kê có mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam. Trần Đình Lý và cộng sự (1993) [30] đã thống kê được 1.900 cây có ích ở Việt Nam, trong đó đã xác định được giá trị sử dụng của từng loài và mô tả được đặc điểm hình thái của chúng. Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1995) [10] nghiên cứu thành phần loài, dạng sống của savan bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện 123 loài thuộc 47 họ.