ĐẶT VẤN ĐỀ Các loài thú Linh trƣởng đƣợc coi là nhóm sinh vật chỉ thị cho chất lƣợng của hệ sinh thái rừng. Mỗi khi các loài linh trƣởng; đặc biệt là các loài Khỉ vắng mặt ở một khu rừng nào đó thì có nghĩa là chất lƣợng rừng ở đó đã bị suy giảm, không còn đủ khả năng cung cấp đủ thức ăn và nơi ở cho chúng. Trong chuỗi và lƣới thức ăn, các loài Khỉ vừa là những sinh vật tiêu thụ vừa là những mắt xích thức ăn quan trọng. Với vai trò là những sinh vật tiêu thụ, các loài Khỉ đều thích ăn quả, do đó đã mang rải các hạt, quả cây khắp trong vùng rừng chúng sống, từ đó góp phần mở rộng vùng phân bố tự nhiên của các loài cây.
Các loài Khỉ cũng ăn nhiều côn trùng và động vật gây hại cho sản xuất nông lâm nghiệp. Với vai trò là những vật làm thức ăn, lƣới thức ăn sẽ nghèo đi khi thiếu vắng các loài Khỉ. Nhiều loài động vật ăn thịt có sự phụ thuộc tƣơng đối lớn đối với con mồi là các loài Khỉ nhƣ: Báo hoa mai, Báo gấm, Chồn mác và nhiều loài chim ăn thịt ngày khác. Do đó, thực hiện bảo tồn các loài Khỉ và sinh cảnh sống của chúng sẽ đồng nghĩa với bảo vệ đƣợc nhiều loài động thực vật khác có liên quan, từ đó làm tăng tính đa dạng sinh học của rừng.
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Huống đƣợc thành lập nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động thực vật đặc trƣng cho vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Do có tầm quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học thú Linh trƣởng, KBTTN Pù Huống đƣợc xem là “khu vực nhạy cảm - ƣu tiên” bảo tồn các loài thú Linh trƣởng. Hầu hết các đợt điều tra nghiên cứu liên quan đến thú Linh trƣởng tại KBTTN Pù Huống mới dừng lại ở việc thống kê thành phần loài (Kemp và Dilger, 1996; Chi cục kiểm lâm Nghệ An, 2002; Danida, 2003). Khảo sát năm 2010 của Viện sinh thái rừng & môi trƣờng có hƣớng đến việc đánh giá tình trạng quần thể từng loài Khỉ và dự đoán vùng phân bố thích hợp của các loài Khỉ trong KBTTN Pù Huống (Dự 2 án Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam, 2010).
Tuy nhiên, thông tin về tình trạng quần thể các loài Khỉ còn khá sơ lƣợc, đồng thời chƣa thu thập đủ bộ dữ liệu về đặc điểm sinh thái học quần thể làm cơ sở khoa học vững chắc cho xây dựng kế hoạch bảo tồn loài. Bởi vậy, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học quần thể của các loài Khỉ (Cercopithecinae Gray, 1821) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, tỉnh Nghệ An”, với mong muốn cập nhật và chi tiết hóa thông tin về tình trạng quần thể, xác định đặc điểm sinh cảnh ƣa thích của các loài Khỉ và mức độ canh tranh không gian sống giữa loài tại đây, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý để bảo tồn các loài Khỉ tại KBTTN Pù Huống. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về thú họ phụ Khỉ Họ phụ Khỉ (Cercopithecinae) gồm những loài thú ăn tạp, hoạt động cả trên cây và trên mặt đất.
Tay và chân ôm cây đƣợc khi leo trèo, các ngón có móng dẹp. Có chai mông, đuôi không cầm nắm đƣợc và có chiều dài thay đổi tùy loài. Dạ dày đơn, túi má lớn. Khi ăn, Khỉ thƣờng tích đầy thức ăn vào túi má lớn, sau đó tìm chỗ an toàn ngồi nhai lại.
Khỉ sống thành đàn lớn nhiều đực; thức ăn bao gồm quả cây, hạt, chồi, côn trùng, thằn lằn, ếch nhái, cua, ốc. Thú họ phụ Khỉ phân bố ở các khu rừng nhiệt đới và á nhiệt đới Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ. Ở Việt Nam, họ phụ Khỉ có 05 loài thuộc 01 giống; và cả 05 loài đều thuộc diện nguy cấp, quý, hiếm đƣợc pháp luật bảo vệ (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Danh lục thú họ phụ Khỉ ở Việt Nam Tên loài Tình trạng bảo tồn TT Tên phổ NĐ06/ loài Tên khoa học SĐTG SĐVN CITES thông NĐ160 Macaca arctoides 1 Khỉ mặt đỏ VU VU PL2 IIB/0 (I.
Geoffroy, 1831) Macaca assamensis 2 Khỉ mốc NT VU PL2 IIB/0 (McClelland, 1840) Macaca mulatta 3 Khỉ vàng LR PL2 IIB/0 (Zimmermann, 1780) Macaca leonina 4 Khỉ đuôi lợn VU VU PL2 IIB/0 (Blyth, 1863) Macaca fascicularis 5 Khỉ đuôi dài LR PL2 IIB/0 (Raffles, 1821) 4 Chú giải: SĐTG - Sách Đỏ thế giới của IUCN, 2020; SĐVN - Sách Đỏ Việt Nam, 2007 (VU - Sẽ nguy cấp, NT - Gần bị đe dọa; LR - Đe dọa thấp); CITES - Công ƣớc quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp, 2019 (PL1 - Nghiêm cấm buôn bán quốc tế, PL2 - Hạn chế buôn bán quốc tế); NĐ06 - Nghị định 06/2019/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ƣớc về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (IB - Động vật rừng nghiêm cấm khai thác sử dụng, IIB - Động vật rừng hạn chế khai thác sử dụng); NĐ160 - Nghị định 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ (0 - Không có tên trong phụ lục của Nghị định). Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides) Hình 1. Hình thái loài Khỉ mặt đỏ (con cái trƣởng thành) (Nguồn ảnh: Ban quản lý KBTTN Phong Điền, Thừa Thiên Huế) 5 Khỉ mặt đỏ còn có tên gọi khác là Khỉ cộc; là loài có kích thƣớc lớn nhất trong họ phụ Khỉ với đuôi rất ngắn (2 - 3 cm). Thân mập chắc; bộ lông dầy, sợi lông dài.
Mặt lƣng màu nâu sẫm tới nâu đỏ hoặc đen. Lông ở lƣng và hai bên đầu thƣờng rất dài, rậm và có thể tạo thành râu cằm ở con đực. Lông phần bụng thƣa, màu nhạt hơn phần lƣng. Da trần ở mặt rộng; da trên mắt và trên gò má đỏ thẫm, đôi khi màu đỏ xanh.
Chai mông lớn, không có lông. Đuôi ngắn và trụi lông (giống cành cây cụt). Con non mới đẻ màu trắng sữa (Phạm Nhật, 2002; Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Khỉ cộc sống theo đàn, luôn có một con đực to khỏe làm con đầu đàn.
Khi kiếm ăn cũng nhƣ lúc nghỉ chuốt lông, con đầu đàn thƣờng đi tách riêng một mình và luôn ở vị trí cao hơn để quan sát xung quanh tốt hơn; nó luôn thận trọng và cảnh giác với mọi tiếng động và vật lạ xung quanh. Số lƣợng con trong một đàn Khỉ cộc thay đổi từ 5 - 21 cá thể, phụ thuộc vào điều kiện an toàn và khả năng cung cấp thức ăn của sinh cảnh (Phạm Nhật, 2002). Khỉ cộc kiếm ăn cả ngày, thƣờng không có hiện tƣợng nghỉ trƣa mà chúng có các đợt nghỉ ngắn trong lúc kiếm ăn. Hiện tƣợng nghỉ trƣa của Khỉ cộc chủ yếu diễn ra trong mùa nóng và thời gian nghỉ cũng rất ngắn.
Sinh hoạt của đàn Khỉ cộc khá im lặng, không náo nhiệt nhƣ Khỉ vàng kể cả lúc ngồi chuốt lông cho nhau; ngoại trừ những con nhỏ vật lộn và nô đùa nhau. Thỉnh thoảng chúng phát tiếng “khoọc khoọc” nhỏ, nhẹ để gọi bầy hoặc để báo hiệu cho nhau di chuyển điểm kiếm ăn (Phạm Nhật, 2002). Hoạt động kiếm ăn của Khỉ cộc diễn ra cả trên cây lẫn dƣới đất song thời gian ở dƣới đất nhiều hơn. Các con nhỏ, con nhỡ và con cái thƣờng kiếm ăn trên cây; chúng có thể bò theo các cành nhỏ để hái lá non hoặc quả chín đầu cành.
Các con già chỉ kiếm ăn trên mặt đất, chúng lƣợm những lá quả rụng hoặc do các con kiếm ăn trên cây làm rơi xuống. Trên đất, ngoài quả rụng Khỉ cộc còn lật đá bắt các loài động vật nhỏ (Dế mèn, Dế dũi, Dán rừng, Châu chấu, Nhái. Khi di chuyển địa điểm kiếm ăn, đàn Khỉ cộc 6 thƣờng xuống đất để đi. Thỉnh thoảng gặp một số con bán trƣởng thành di chuyển trên cành cây (Phạm Nhật, 2002).
Khỉ mốc (Macaca assamensis) Khỉ mốc là loài có kích thƣớc trung bình trong họ phụ Khỉ với chiều dài đuôi từ 1/3 - 1/2 chiều dài thân - đầu. Mặt lƣng rậm lông, màu vàng nhạt tới nâu sẫm hoặc nâu nhạt. Mặt bụng thƣa lông, sáng màu hơn mặt lƣng và thƣờng có màu xanh nhạt. Đuôi có lông dài và thƣờng rủ xuống.
Lông trên đỉnh đầu mọc rẽ sang phải và sang trái, đồng thời xoáy ở trên gốc tai. Chai mông lớn; lông vùng háng, quanh hai chai mông mọc sát đến tận bờ chai mông (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Hình thái loài Khỉ mốc Khỉ mốc sống theo đàn, nhƣng số lƣợng con trong một đàn không nhiều. Số lƣợng cá thể trong một đàn ở Khỉ mốc luôn ít hơn các loài Khỉ khác ở Việt Nam; chƣa gặp đàn Khỉ mốc nào đông trên 20 con.
Tổ chức đàn ở Khỉ mốc có nhiều đặc điểm giống Khỉ cộc với một con đực to khỏe làm đầu đàn; tuy nhiên vai trò của con đầu đàn thể hiện không rõ nét nhƣ ở đàn Khỉ cộc (Phạm Nhật, 2002). 7 Khỉ mốc kiếm ăn ngày hai buổi, sáng và chiều, trƣa nghỉ. Hoạt động kiếm ăn của Khỉ cộc diễn ra cả trên cây lẫn dƣới đất song thời gian ở trên cây nhiều hơn. Một đặc điểm quan trọng trong tập tính kiếm ăn của Khỉ mốc là rất trầm lặng, kể cả khi đàn Khỉ ngồi chuốt lông thì các con nhỏ cũng ít nô đùa.
Có thể do tính trầm lặng, kín đáo và không phát tiếng kêu trong quá trình kiếm ăn nên tần số phát hiện Khỉ mốc trên thực địa không cao (Phạm Nhật, 2002). Khỉ vàng (Macaca mulatta) Hình 1. Hình thái loài Khỉ vàng (Nguồn ảnh: Ban quản lý VQG Bái Tử Long, Quảng Ninh) Là loài có kích thƣớc nhỏ trong họ phụ Khỉ (chỉ to hơn Khỉ đuôi dài) với chiều dài đuôi từ 1/2 - 3/4 chiều dài thân - đầu. Khỉ vàng có bộ lông mỏng về mùa hè và dày về mùa đông.
Lƣng màu nâu vàng, phớt xám ở vai và phớt đỏ ở sƣờn. Bụng trắng đục. Phần mông và phía trên hai đùi màu hung đỏ/râu 8 ngô. Mặt thƣờng đỏ, lông trên đỉnh đầu hƣớng ra sau.
Điểm khác với Khỉ mốc là quanh bờ chai mông không có lông, để lộ một vùng da trần (Phạm Nhật, 2002; Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Khỉ vàng sống theo đàn, số lƣợng con trong đàn biến động lớn, khoảng 10 - 40 cá thể (Lê Hiền Hào, 1973). Trong cùng khu vực cƣ trú; số lƣợng cá thể trong một đàn ở Khỉ vàng thƣờng nhiều hơn các loài Khỉ khác ở Việt Nam.