Mở đầu Chơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chơng 2: Thực trạng d luận xã hội về gian lận trong thi cử thông qua nhận thức, niềm tin, thái độ của sinh viên Chơng 3: Lý giải nguyên nhân d luận xã hội của sinh viên về hành vi gian lận trong thi cử hiện nay Kết luận và khuyến nghị 15 CHƠ|ƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN 1. D luận xã hội Theo từ điển Xã hội học OXFORD, đo nhóm dịch giả Bòi Thế Còng, Đặng Thị Việt Phơng, Trịnh Huy Hóa cho rằng: “D luận xã hội là một khái niệm thiếu chặt chẽ đợc dòng theo nhiều cách nhng có lẽ theo thông thòng nhất, nó đề cập đến sự chấp thuận hay không chấp thuận một bộ phận xác định trong xã hội tróc những vị trí hay ứng xử có thể quan sát công khai và thong doc đo lòng thông qua các cuộc thăm dò DLXH. Do đó DLXH thòng đợc đánh đồng với những gì mà các cuộc thăm do DLXH đa ra”(L) Tác giả Mai Quỳnh Nam định nghĩa : “DLXH là thể hiện tâm trạng xã hội phản ánh sự đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhân dân nói chung về các hiện tong dai diện cho lợi ích xã hội cấp bách trên cơ sở các quan hệ xã hội dang ton tai” (2,tr.2) Viện Nghiên cứu D luận xã hội đa ra định nghĩa d luận xã hội nh sau: “D luận xã hội là tập hợp các luong y kiến của các cá nhân trớc các vấn dé, sự kiện, hiện tợng có tính thời sự, có liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm của công chóng”. Phạm Chiến Khu, Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác nghiên cứu d luận xã hội, NXB Chính trị Quốc gia, 2011) 1.
D luận xã hội của sinh viên Trên cơ sở nghiên cứu các định nghĩa về DLXH, chúng tôi đa ra định nghĩa về DLXH của sinh viên nh sau: DLXH của SV là nhận thức, thái độ, quan điểm đợc phản ánh qua ý kiến đánh giá của sinh viên đối với các vấn đẻ, sự kiện, hiện tợng liên quan đến lợi ích, giá tri, niềm tin của họ. Gian lận Theo từ điểm Oxford, gian lận là sự phá vỡ các quy tắc đã đặt ra, đặc biệt là trong các kỳ thi nhằm có gắng đạt đợc một lợi ích không công bằng. 16 Gian lận là hành động không trung thực hoặc không công bằng đề đạt đợc lợi thế. Gian lận là phi đạo đức và hầu hết học sinh biết rằng điều đó là sai về cơ bản.
Có nhiều loại gian lận (gian lận trong học tập, gian lận trong các mỗi quan hệ cá nhân, gian lận trong thể thao, gian lận trong trò chơi và cờ bạc), nhng ở đây chúng ta sẽ tập trung vào gian lận trong học tập. Gian lận và gian dối trong học thuật đã tồn tại trong nhiều thập kỷ (Donald L McCabe, Trevino, & Butterfield, 2001). Nhận thức, niềm tin, thái độ Khái niệm về nhận thức: Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con ngời, nhờ đó con ngời t duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Theo quan điểm triết học Mac-Lenin, nhận thức đợc định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con ngời, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
Trong tâm lý học nhận thức và kỹ thuật nhận thức, nhận thức thông thong doc coi 14 qua trình xử lý thông tin của tâm trí ngời tham gia hay ngời điều hành hoặc của não bộ. Theo đó nhận thức đợc cho là quá trình phản ánh năng động và sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ não con ngời. Nhờ hoạt động nhận thức, không chỉ cái bên ngoài mà cả bản chất nên trong, các mối quan hệ mang tính quy luật chi phối sự vận động, sự phát triển các sự vật hiện tợng, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà cả cái đã qua và cái sẽ tới. Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau thể hiện nhiều mức độ phản ánh hiện thực khách quan và mang lại những sản phâm khác nhau về hiện thức khách quan.
Khái niệm niềm tin: Theo Slergist và cộng sự (2006), niềm tin là sự tin chắc rằng mọi việc đều nằm trong tầm kiểm soát và sự không chắn chắn là rất thấp. Trịnh Đình Bảy (2002) xác định niềm tin bao gồm hai 17 yếu tố cơ bản, gồm tri thức (kinh nghiệm và lý luận) và cảm xúc. Tri thức gồm các mức độ khác nhau tùy thuộc vào trình độ nhận thức, còn cảm xúc tùy thuộc vào mức độ thỏa mãn nhu cầu và đợc thể hiện dới hình thức tích cực hoặc tiêu cực. Tri thức và cảm xúc tích hợp với nhau để tạo nên niềm tin.
Trong hai yếu tổ trên cảm xúc đôi khi chiếm phần nổi trội hơn tri thức. Khái niệm thái độ: Thái độ là một khái niệm tơng đối phức tạp.Hiện nay đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ. Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, thái độ đợc hiểu nh sau: + Tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài ( bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động ) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay đối với sự việc nào đó. + Cách nghĩ, cách nhìn hoặc cách hành động theo một hớng nào đó trớc một vấn đề, một tình hình.
Từ điển tâm lí học của Nguyễn Khắc Viện : “ Trớc một đối tong nhất định, nhiều ngời thờng có phản ứng tức thì, tiếp nhận đễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối nh đã có sẵn trong cơ cấu tâm lí tạo ra định hớng cho việc ứng phó. Từ thái độ sẵn có, tri giác về đối tợng cũng nh bị tri phối, về vận động thì thái độ gắn liền với t thế.” Trong từ điển các thuật ngữ tâm lí và phân tâm học xuất bản tại NewYork năm 1966 : “Thái độ là một trạng thái ốn định bên vững, do tiếp thu đợc từ bên ngoài, hớng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tợng nhất định, không phải chúng ra sao mà chúng đọc nhận thức ra sao. Một thái độ đọc nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đổi tợng. Trạng thái sẵn sàng cao có ảnh hởng trực tiếp lên cảm xóc và hành động có liên quan đến đối tợng” 18 Trên thực tế, lần đầu tiên định nghĩa thái độ đợc đa vào là năm 1918 bởi hai nhà tâm lí học ngời Mỹ W.Znaniecki, hai ông cho rằng : “ Thái độ là trạng thái tính thần ( state of mind ) của cá nhân đối với một giá trỊ .” Định nghĩa này chú trọng đến yếu tố chủ quan của cá nhân đối với một giá trị này hay một giá trị khác làm cho cá nhân có hành động này hay hành động khác mà đợc xã hội chấp nhận.
Sau thời gian đó bắt đầu hàng loạt các nghiên cứu về thái độ xã hội đợc tiến hành.Trên những bình diện khác nhau về mặt lí luận và thực tiễn của các mỗi quan hệ xã hội, các tác giả đa ra các quan niệm khác nhau về thái độ với những hạt nhân hợp lý cơ bản riêng. Năm 1935,nhà tâm lý học ngời Mỹ là G.Allport đã định nghĩa: “Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh đợc tô chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hởng năng động đối với phản ứng của cá nhân hớng đến các khách thê và tình huống mà nó quan hệ.” Sau này Ñewcome cũng cho rằng thái độ của cá nhân đối với một đối tợng nào đó là “ thiên hớng hành động, nhận thức, t duy, cảm nhận của anh ta với khách thể liên quan.Kalat đa ra định nghĩa : “ Thái độ là sự thích ứng hay không thích ứng một sự vật hoặc một ngời nào đó của cá nhân, có ảnh hởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hoặc con ngời đó.” Trên đây là những định nghĩa về thái độ theo tâm lí học phơng Tây, còn theo tâm lí hoc Macxit ( dai diện là V.Miaxisev) thì cho rằng : “ Thái độ là khía cạnh chủ quan bên trong, có tính chọn lọc của các mối liên hệ đa dạng ở con ngời với các khía cạnh khác nhau của hiện thực. Hệ thống này diễn ra trong toàn bộ lịch sử phát triển của con ngời, biểu thị kinh nghiệm cá nhân và qui định nội hàm hành động cũng nh các trải nghiệm của họ ” Trên cơ sở tích hợp từ các định nghĩa trên, trong luận văn sử dụng khái niệm “thái độ” với cả hai nghĩa giá trị niềm tin và xu hớng hành động thể hiện dới hình thức các lời nhận định. Thái độ đợc hiểu là tâm trạng bên 19 trong đợc biểu lộ ra qua hành động, hành vi của cá nhân hay nhóm xã hội trớc một sự kiện xã hội thông qua sự tán thành, ủng hộ hoặc phản đối, thông qua hành vi tham gia hoặc không tham gia sự kiện đó.
Nó là giai đoạn trung gian giữa nhận thức tiềm ân với giai đoạn thực hiện đầy đủ hành vi về một vấn đề nào đó. Thái độ của cá nhân, nhóm xã hội bị quy định bởi các yếu tố xã hội, đối tợng tác động và phụ thuộc vào các khuôn mẫu xã hội. Do vậy, thái độ có thể thay đổi nếu các yếu tố xã hội, đối tợng tác động và khuôn mẫu giá trị xã hội thay đổi. Từ việc tìm hiểu, xem xét, phân tích các quan điểm về thái độ nêu trên, thái độ có thể đợc định nghĩa nh sau: 7hái độ là một thuộc tính của nhân cách, tạo ra tâm lý sẵn sàng phản ứng lại các tác động khách quan; sẵn sàng hoạt động của chủ thể với đối tợng theo một hớng nào đó, đợc biểu hiện ra bên ngoài thông qua nhận thức, xúc cảm-tình cảm và hành vì của chủ thể đối với đổi tợng trong những tình huống, điều kiện nhất định.
Lý thuyết về d luận xã hội J.Habermas là ngời phát triển khái niệm lĩnh vực công cộng (public spheres) khi nghiên cứu về d luận xã hội. Theo ông, lĩnh vực công cộng là một vũ đài, là nơi thoải mái để các công dân tranh luận, cân nhắc thiệt hơn, thỏa thuận thống nhất và hành động. Tại đây, mọi ngời có thẻ chia sẻ quan điểm của mình một cách tự do với nhau. Habermas hy vọng tạo lập ra sự đối thoại bên ngoài vòng kiểm soát của chính phủ và kinh tế.