phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có bốn chương chính: Chương một của luận văn đề cập đến khái niệm danh từ, các loại danh từ trong tiếng Anh và tiếng Việt, loại từ và những vấn đề về dịch định ngữ. Bên cạnh đó, người viết cũng nêu lên một số lỗi của dịch giả trong việc dịch loại từ. Chương hai đề cập đến vấn đề Số trong danh ngữ tiếng Anh và tiếng Việt: khái niệm về Số (như một phạm trù), phạm vi áp dụng của Số và các vấn đề liên 11 quan đến việc dịch Số. Một số lỗi trong việc dịch lượng từ cũng được nêu lên ở chương này.
Chương ba của luận văn nói về tính [±xác định] của danh ngữ và các phương tiện thể hiện nó trong tiếng Anh và tiếng Việt. Chương bốn viết về đại từ và so sánh các tiểu loại đại từ trong tiếng Anh và tiếng Việt. Chương này đi sâu vào việc nghiên cứu cách chuyển dịch đại từ nhân xưng và sở hữu từ tiếng Anh sang tiếng Việt, đồng thời rút ra một số lỗi của dịch giả khi dịch đại từ trong tác phẩm Cuộc phiêu lưu của Tom Xo-Yơ. Nói một cách chính danh, thì đại từ là một từ loại khác với danh từ.
Nhưng do đại từ có khả năng đảm nhận những chức năng cú pháp như danh từ, cho nên việc đề cập đến đại từ trong luận văn này tưởng vẫn cần thiết. Phần cuối của luận văn là Bảng chỉ dẫn thuật ngữ Việt – Anh. 12 CHƯƠNG MỘT NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH [± ĐẾM ĐƯỢC] CỦA DANH TỪ 1. Khái niệm danh từ và danh từ [±đếm được] 1.
Danh từ Do bản chất phức tạp của danh từ và cách thức thể hiện nó ở mỗi ngôn ngữ khác nhau nên có nhiều cách định nghĩa khái niệm danh từ. Nhìn chung, có thể khái quát các kiểu định nghĩa danh từ thành ba hướng chính như sau: - Ngữ pháp truyền thống thường dựa vào nghĩa để tách danh từ ra khỏi những từ loại khác với định nghĩa “danh từ là từ gọi tên người, sự vật, hay nơi chốn”. - Ngữ pháp cấu trúc luận cũng như ngữ pháp tạo sinh dựa vào tiêu chí hình thức để nêu những đặc trưng định nghĩa của danh từ. Theo họ, danh từ là lớp từ có khả năng kết hợp với yếu tố chỉ lượng (quantifier), với quán từ (article), có khả năng đảm nhận vị trí trung tâm trong cấu trúc danh ngữ.
- Chú ý tới cả phương diện ý nghĩa, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp, nhiều tác giả cho rằng “danh từ là từ loại có ý nghĩa phạm trù sự vật”, có các phạm trù ngữ pháp giống, số, cách, thực hiện các chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ. Tuy có nhiều hướng định nghĩa nhưng về cơ bản các tác giả đều nhất trí cho rằng danh từ là từ chỉ thực thể và/ hoặc hình thức tồn tại của thực thể, là “từ loại có thể tự mình làm thành ngữ đoạn dùng để chỉ (những) sự vật, hay (những) thực thể được xử lý như sự vật (hành động, biến cố, trạng thái, tình cảm, tính chất, v.), tức danh ngữ, một trong những bộ phận của câu chuyên biểu thị các tham tố của sự tình”. 13 Người ta thường dựa vào tính [± đếm được] hay tính [± đơn vị] để phân loại danh từ. Tính [± đếm được] thường được hiểu là [± khả năng] kết hợp được với quán từ và yếu tố chỉ lượng.
Allan (1980) đều cho rằng thế đối lập [± đếm được] là một trong những đặc trưng tiêu biểu nhất của các đơn vị định danh trong các ngôn ngữ nói chung. Theo Cao Xuân Hạo (1998), chỉ riêng sự có mặt của thế đối lập [± đếm được] cũng đủ để khu biệt danh từ và danh ngữ với các từ loại và ngữ đoạn khác, và mặt khác, khó lòng có thể quan niệm nổi một ngôn ngữ lại không biết đến thế đối lập này trong ngữ pháp của nó. Sự phân biệt này dựa vào việc thừa nhận hay không đối tượng có thể [± đếm được] (đối tượng đó có thể là cá thể hoặc tập thể). Tính [±đơn vị] cũng được một số tác giả đề cập tới.
Theo Diệp Quang Ban (1991) thì khái niệm “đơn vị” có hai nội dung khác nhau: “đơn vị có thể hiểu là một đại lượng dùng để đo các vật đồng tính, chia cắt chúng thành những phần quy ước bằng nhau […]. Mặt khác đơn vị còn được hiểu là một vật rời trong số các vật được xác định theo một tiêu chuẩn nào đó”. Ông cũng phân biệt ý nghĩa đơn vị rời và ý nghĩa đơn vị đại lượng, ý nghĩa đơn vị rời và ý nghĩa danh từ tập thể, ý nghĩa đơn vị rời và ý nghĩa chỉ loại. Tính đếm được là hệ quả của tính đơn vị: đơn vị đại lượng để cân, đong, đo lường vật và đơn vị “rời” của vật (được xác định qua một tiêu chuẩn nào đó), là phương tiện dùng để đếm vật.
Nhiều người hay nhầm lẫn giữa tính đơn vị và tính đếm được của danh từ. Hai phạm trù này rất gần nhau nhưng không phải là một. Có những danh từ đếm được (trong bất cứ điều kiện nào), nhưng không hề có tính đơn vị; hơn thế, nó còn mang những đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp và công dụng khác hẳn những trường 14 hợp vẫn được mọi người thừa nhận là danh từ đơn vị. Chẳng hạn, những danh từ như: thư ký, bác sĩ, danh nhân, giáo sĩ đều kết hợp được với lượng từ (gồm số đếm và từ chỉ lượng), hay nói cách khác, đều đếm được, đều có khả năng độc lập làm thành danh ngữ và kết hợp với giới từ làm trạng ngữ.
Nhưng do có nghĩa chỉ chủng loại, không biểu thị nghĩa đơn vị đại lượng, cũng không biểu thị ý nghĩa đơn vị rời, nói cách khác, do không có nghĩa chỉ vật rời, phân lập có một kích thước nhất định nên những từ trên không có tính đơn vị và không thể kết hợp với từ chứng đặc thù của danh từ đơn vị (như phân lượng từ cả, nửa), và cũng không hàm nghĩa số, không hàm tính [±xác định]. (Xem Nguyễn Thị Ly Kha 2000) Tên gọi danh từ khối cũng có thể gây hiểu lầm với những danh từ chỉ dùng để chỉ chất liệu, vì từ “khối” thường gợi lên trong tâm tưởng chúng ta hình ảnh những vật không hình thù, không phân lập. Nhưng sự phân biệt chất liệu và vật thể trong ngôn ngữ và trong thực tế khách quan không hề đồng nhất. Trong một công trình bàn về danh từ khối, T.
Burge (1979) đã khẳng định: Không phải hễ là danh từ khối thì luôn luôn chỉ chất liệu, những danh từ khối như fruit (trái cây), clothing (quần áo), apparatus (bộ dụng cụ), hardware (đồ ngũ kim), đều không hề chỉ chất liệu, mà chỉ vật thể. Một vài từ ngữ đôi khi áp dụng đối với chất liệu nhưng lại không phải là những danh từ khối, ví dụ: quantity (khối lượng), aggregate (khối tập hợp). Danh từ [±đếm được] Danh từ đếm được trong tiếng Anh chỉ một lớp những thực thể riêng lẻ của cùng một loại. Những thực thể đơn lẻ này là những phần nhỏ nhất theo nghĩa là chúng không thể được chia thành những phần nhỏ hơn cùng loại mà được xem như là một tổng thể.
Ví dụ: “A boy” gồm có đầu, tay, chân, mắt, mũi, v. nhưng bản thân từng phần này không tạo nên được cái nghĩa “boy”, mà là tổng hợp của tất cả các bộ phận mới tạo nên cái nghĩa “boy” ấy. Những danh từ thuộc loại này có thể đếm được, có hình thức số, có thể kết hợp với số đếm hoặc lượng từ (one, two, several, every, each,…), và mạo từ bất 15 định a/an. Danh từ không đếm được trong tiếng Anh có hai dạng điển hình sau: thứ nhất, là những danh từ bao gồm những loại vật chất, chẳng hạn như water (nước), milk (sữa), soil (đất), silver (bạc), v.
Water, milk, soil, silver có thể được chia ra tùy ý thành những phần là chính nó. Những danh từ ở dạng này không có sự cá thể, vì vậy không thể đếm được. Dạng thứ hai được đưa ra ở đây là crockery (bát đĩa). Từ này bao gồm nhiều đồ vật: plates (đĩa), dishes (đĩa), cups (tách), saucers (đĩa nhỏ), v.
Các đồ vật này hợp lại với nhau bởi cùng chức năng là dùng để đựng đồ ăn và thức uống. Ta có thể chia nhỏ các đồ vật này như đối với “chất” ở trường hợp trên nhưng sự phân chia đó không thể tùy ý. Nếu phần chia ra chỉ là “the handle of the cups” (quai tách) hay là cup (cái tách) cũng không thể cấu thành crockery, mà là toàn bộ các loại đồ vật được đề cập đến ở trên mới đem lại cái nghĩa của crokery. Sự khác nhau giữa crockery và water là crockery không đồng nhất, trong khi water thì có.
Crockery gồm một tập hợp những thành phần không đồng nhất. Mặc dù vậy, tập hợp đó cũng giống như “chất”, không bị giới hạn, chúng ta có thể thêm vào hoặc bỏ ra từng phần, và vẫn còn lại là crockery. Chúng ta có thể đếm được cups, dishes, plates riêng lẻ mà tạo thành crockery, nhưng chúng ta không thể đếm được chính tập hợp đó. Danh từ không đếm được trong tiếng Anh còn gồm những danh từ gọi tên những khái niệm trừu tượng, ý niệm, v.
Như vậy, danh từ không đếm được trong tiếng Anh là những danh từ biểu thị những chất, những vật thể, những khái niệm, ý niệm trừu tượng mà chúng ta không thể chia thành những yếu tố riêng rẽ, phân lập, không mang hình thức số, không thể kết hợp với số đếm hoặc lượng từ, và không kết hợp được với mạo từ bất định a/an. Những vấn đề dịch thuật liên quan đến loại từ 1. Khái quát về loại từ Loại từ là một từ được một vài ngôn ngữ dùng để phân loại danh từ dựa vào nghĩa của nó. Trong ngôn ngữ có loại từ, một danh từ có thể có hay không có loại từ đi kèm để chỉ sự phân loại dựa trên khái niệm của vật được nói đến của danh từ và thường được dùng để đếm.
Loại từ không phải là đơn vị ngữ pháp mà là đơn vị từ vựng. Một ngôn ngữ có thể có hàng trăm loại từ. Ví dụ, trong tiếng Nhật, loại từ dùng cho người là nin, và được dùng để đếm người. Chẳng hạn như: san-nin no seito = ba sinh viên; san-nin no sensei = ba giáo viên.
Hoặc như loại từ hon dùng để đếm những vật thể dài như que, gậy, hay bút chì. Qua ví dụ ta có thể thấy loại từ phù hợp với sở chỉ của danh từ, chứ không phải với chính danh từ đó.