Chương 1: Đặc điểm văn xuôi Dạ Ngân - Nhìn từ vốn sống và cảm hứng nghệ thuật Chương 2: Văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân – Đặc điểm về thể loại và phương thức tự sự Chương 3: Văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân – Đặc điểm về ngôn từ CHƯƠNG MỘT: ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI DẠ NGÂN– NHÌN TỪ VỐN SỐNG VÀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT 1. Dạ Ngân – Nhà văn của cái hôm qua và cái hôm nay 1. Dạ Ngân – Nét vẽ chân dung nhìn từ cuộc đời Trong dòng chảy của cuộc sống, mỗi một con người ghi lại sự hiện diện của mình bằng những cách khác nhau, và bằng những cảnh đời khác nhau. Trong những cảnh đời ấy, có những cảnh đời êm ả, phẳng lặng; nhưng lại cũng có những cảnh đời chẳng hề bình lặng một tí nào.
Dạ Ngân, một người con của vùng sông nước Tây Nam Bộ, một người đã có một phần tư thế kỷ cầm bút, sống trong Nam, rồi ra ngoài Bắc, đã có nhiều trải nghiệm đời thường. Dạ Ngân đã thổ lộ : “Quê gốc tôi ở miệt vườn Cao Lãnh sông Tiền nhưng vì ông nội tôi thích thi thố nên đưa tất cả anh em giạt xuống tận Cần Thơ để phỉ chí nghề vườn. Tôi là phụ nữ miệt vườn chính cống và tôi luôn tự hào về điều đó. Tuổi thơ tôi được bảo bọc bằng nghề vườn, cây vườn và nhà nội, trong đó vai trò quyết định thuộc cô tôi, người đàn bà goá đã ở vậy đến già để chăm nuôi bầy cháu cho ba tôi đi kháng chiến.
Cho đến khi ba tôi bị tù, án khổ sai Côn Đảo rồi chết trong xà lim thì tôi thuộc về cô tôi hoàn toàn, tâm hồn và tính cách ấy đã quyết định tư chất tôi. Ở vào vùng hành lang giữa căn cứ kháng chiến tỉnh với căn cứ kháng chiến Khu Chín, gia đình tôi không có sự lựa chọn nào khác cho chị em gái nhà tôi: Tất cả phải đi vào Cứ tham gia đánh giặc, con đường của cha tôi. Lý tưởng đã được đơn giản hoá thành thù nhà rồi sau mới là nghĩa nước” [12, 27]. Là người con của một cán bộ kháng chiến bị tù đày và sau này đã hy sinh trong tù, chị đã tiếp nối những chặng đường kháng chiến của cha, đi vào Cứ, sống những tháng ngày đạn bom ác liệt, làm thư ký đánh máy, rồi làm báo, những công việc khác nhau.
Với bao khó khăn, thiếu thốn, với nhiều vất vả gian nan. Nhưng lẫn trong những gian khổ, vẫn có những giây phút bình yên, ấm áp với đồng đội, với người thân. Một Lê Hồng Nga – tên thật của Dạ Ngân – nhiệt tình, say sưa, cặm cụi với công việc trong rừng, trong Cứ. Quãng đời ấy, đã để lại những kỷ niệm ấm áp trong chị.
Song, không chỉ có ấm áp, đã có những nỗi buồn, những tiếc thương, khi đồng đội, khi những người chị, người anh của cùng cơ quan với chị, những người gởi quãng đời thanh xuân, tươi đẹp, rực rỡ của mình vào cuộc kháng chiến cao cả mà cũng thật nhiều gian nan của dân tộc, đã hy sinh. Những tháng năm trong Cứ, đẹp đẽ, hào hùng, mà cũng thật khó nhọc, hiểm nguy. Những tháng năm kháng chiến ấy mãi trong ký ức của Hồng Nga, đã trở thành những ám ảnh nghệ thuật trong chị. Hoà bình trở lại, chị đến với nghiệp làm báo, viết văn.
Lại tiếp tục những tháng năm khó khăn thời bao cấp. Cuộc hôn nhân đến với chị sau những ngày hoạt động chung trong rừng, có những chung đụng về thể xác, đã không là sự chọn lựa của chị trên tình yêu. Để, về sau này, khi sống gần nhau, cùng nhau, dần theo thời gian, đã cho chị thấm thía: Chị phải gánh chịu những đau khổ âm thầm của một người vợ, mà trái tim hai người không cùng chung nhịp đập. Sau những rạn nứt trong cuộc sống vợ chồng là cả một quãng thời gian dài chị phải chịu nhiều áp lực nặng nề, bị lên án, từ gia đình, đến cơ quan.
Ở gia đình, đó là sự ràng buộc của nền nếp gia phong, không cho phép chị đến hết lòng với người mình yêu, khi chị còn đang là vợ của một cán bộ tuyên giáo tỉnh với hai con nhỏ. Những người có quyền uy trong gia tộc không cần biết: Chị sống với chồng mà có tình yêu hay không; chồng chị là một người có tâm tính như thế nào. Bao nhiêu đau khổ đã đến với chị, khi chị chấp nhận yêu một người đàn ông đang có vợ. “Chấp nhận và đau khổ.
Biết bao nhiêu nước mắt đã chảy. Hơn 11 năm trời…”, “Nhiều thứ áp lực như thể tôi bị nhốt vào cái thùng phuy mà đậy vậy” [12, 109 – 110]. Sức ép ấy, người phụ nữ làm văn chương ấy phải chịu đựng từ cơ quan, từ gia tộc, từ con cái và cả của bạn bè, rồi còn cả dư luận nữa. Nếu không vì một tình yêu chân thật, dễ gì nhà văn nữ của chúng ta có thể vượt qua được tất cả những sức ép nặng nề ấy với đằng đẵng từng ấy năm.
Rồi còn phải miếng cơm manh áo thường nhật, rồi còn phải nuôi con ăn học, rồi còn bao lo toan khác. Có lẽ, như những người luôn gặp những cảnh ngộ kém may, chị như đã được tiêm vaccin để tạo kháng thể, để quen chịu đựng những cảnh ngộ khó khăn. Sự kéo dài thủ tục ly hôn, rồi việc không ngại vượt những chặng đường xa thẳm để đến với tình yêu mới, rồi tâm trạng cứ luôn trĩu nặng khi nghĩ mình chưa lo cho hai con chu đáo đã luôn trong suy tư của chị, để rồi những băn khoăn ấy đã dồn nén thành những ám ảnh nghệ thuật của nhà văn. Dạ Ngân từng thổ lộ “Nghĩa là sống với tất cả các cung bậc tình cảm của mình, với tất cả giác quan của từng tế bào trong con người mình.
Nguyên liệu sẽ sinh ra từ từng giây phút sống ấy” [71, 179]. Cuộc đời từng trải của chị, lắm khổ đau, từng hạnh phúc, đã vẽ nên chân dung Dạ Ngân, nhạy cảm, quan sát tinh tế, sống hết mình, cả trong công việc, lẫn trong tình cảm. Nhà văn nữ của chúng ta, Dạ Ngân, đã có những quan niệm gì trong tình yêu? “Tình yêu luôn vừa phải lãng mạn, vừa thực tế, vừa phóng khoáng, lại đòi hỏi bao dung” [12, 109]. Và “Bởi con đường đến đích cuối cùng bao giờ cũng đòi hỏi tình yêu hai chiều, đòi hỏi sự hy sinh ghê gớm mới có hạnh phúc”[12, 111].
Có lẽ, nét vẽ chân dung Dạ Ngân gần gũi với nhận định của một nhà nghiên cứu văn học cao niên, giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, về nghề văn: “Phải vật lộn với hoàn cảnh, nghĩa là phải sống và chiến đấu thật sự, lại phải vật lộn với chất liệu nghệ thuật, với chữ nghĩa, với chính bản thân mình để chống lại sự lười nhác, dễ dãi, để tự tạo lấy những vốn liếng mới, những khả năng mới, đáp ứng cho được những yêu cầu ngày càng cao của xã hội” [46, 88]. Sống thật sự, với những cảm xúc thật của một con người nhạy cảm; với hoàn cảnh cũng thật, không tạo nên, không tô vẽ, đã tạc nên một Dạ Ngân – Lê Hồng Nga nhìn từ cuộc đời. Song, là một nhà văn, điều để phân biệt với người khác, chính là ở tác phẩm mà người ấy mang đến cho bạn đọc, sáng tạo vì bạn đọc. Trong suốt hơn hai mươi lăm năm sáng tác của mình, với trên mười lăm tác phẩm đã được xuất bản, cả truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, tản văn, người đọc dễ dàng nhận ra một chân dung Dạ Ngân nhìn từ sáng tác của chị.
Dạ Ngân – nét vẽ chân dung nhìn từ sáng tác Mỗi một nhà văn đều có những cách khác nhau trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Có người đi nhiều, tiếp xúc với nhiều người làm nhiều công việc khác nhau, để viết nên những trang văn giàu sức sống, như Nguyễn Tuân, như Tô Hoài. Lại có những nhà văn từ thực tế quan sát được, kết hợp với những kiến thức khoa học, sáng tạo nên những câu chuyện cổ tích thời nay như Phạm Hổ. Lại có nhà văn chỉ chuyên viết cho một lứa tuổi, tuổi mới lớn như Nguyễn Nhật Ánh.
Mỗi nhà văn ấy, có những nét riêng trong phong cách, trong sáng tác của mình. Dạ Ngân đã từng tâm sự “Tôi là tạng nhà văn cái gì không ngấm vào mình, không trải qua thì không thể viết sâu sắc” [22, 103]. Từ những sáng tác của chị, người đọc dễ nhận ra một chân dung Dạ Ngân trong muôn mặt đời thường. Chúng ta có thể nhận ra một Dạ Ngân của ngày thơ ấu trong Miệt vườn xa lắm.
Thuở ở miệt vườn Long Mỹ, Hậu Giang, Tiệp yêu thương, quý trọng, kính phục vô vàn cô Tư Ràng, cô em út của ba chị, một người đã gác lại cuộc sống riêng của mình, để nuôi, dạy dỗ một đàn cháu, con của ông anh đi kháng chiến đã ngồi tù với án hai mươi năm khổ sai. Chị đã học rất nhiều điều tốt đẹp từ cô. Từ việc kính yêu ông bà nội, việc chịu khó làm lụng, đến việc thực hiện bổn phận con cháu trong gia đình, cả tính kỷ luật trong công việc, sự tháo vát, ý thức tiết kiệm, ý chí và nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Tất cả, chị có được từ cô Tư Ràng.
Đọc trọn Miệt vườn xa lắm, gấp sách lại, mấy ai không có cảm nhận đó. Mẹ chị đã cho chị hình hài. Nhưng người tạo cho chị tính cách mạnh mẽ mà vẫn luôn đôn hậu lại là cô Tư. Lời của Tiệp trong tác phẩm cũng là nỗi lòng của nhà văn.
“Tình thương với má và với cô là hai ngôi song song đau khổ trong lòng tôi, giằng xé, tranh cãi nhưng không thể không tồn tại được”. Chị luôn mang ơn cô Tư, bởi “ Cô đã gồng gánh hết sức bằng sự đảm lược có thể nói là phi thường”. Người đọc nhận ra một Dạ Ngân tinh tế, cẩn trọng từ hình ảnh một cô bé Tiệp ngày thơ “Tôi biết đọc những niềm hy vọng của người khác và tôi biết tiếp tục những cử chỉ nhỏ nhoi ấy một cách lặng lẽ, ý tứ” và điều quan trọng mà Tiệp ý thức được là “Tôi cảm nhận được sự kỳ diệu của đời sống tinh thần giữa cô và tôi”; “ Càng ngày tôi càng thấy cái quỹ đạo của cô thật có lý, sâu sắc”. Một bài học của cuộc đời mà cô Tư rút ra từ chính bản thân mình quả đúng với mọi người, trong đó có Tiệp.
“Nhà mình không có đàn ông. Ráng chịu cực đi tụi con! Có cực khổ, chừng ra đời tụi con xông vô chỗ nào cũng thấy nhẹ tênh hết. Ráng đi tụi con!