Chương 1 MÃ A LỀNH TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1. Những đặc trưng cơ bản của văn hóa, văn học Mông 1. Những đặc điểm về văn hóa tộc người Dân tộc Mông (trước năm 1979 được gọi là người Mèo) là tộc người có dân số đông vào hàng thứ 5 trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Người Mông thích sống ở núi cao, tập quán không muốn va chạm.
Nếu có va chạm gì thì họ sẽ bỏ đi đến nơi khác sinh sống. Người Mông quan niệm: “Lửa cháy đến đâu người HMông theo đến đó”. Vì vậy, người Mông còn được gọi là “cư dân lữ hành”. Họ canh tác nương rẫy với các cây trồng phù hợp thổ nhưỡng của miền núi cao như: ngô, lúa nương, khoai, tam giác mạch, ý dĩ, lạc, vừng, đậu và các loại rau trên những thửa ruộng bậc thang.
Bên cạnh đó, họ có nhiều nghề thủ công nổi tiếng như: đan lát, se lanh dệt vải, đúc, rèn, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc. Những sản phẩm thủ công của người Mông có tính kĩ thuật cao, đẹp và tinh xảo thể hiện được tính nhân văn và bản sắc văn hóa độc đáo. Người Mông được chia thành các nhóm nhỏ dựa trên sự khác biệt về sắc phục của người phụ nữ và ít nhiều về âm điệu, thổ ngữ. Theo sự khảo sát của hai tác giả Mã A Lềnh - Từ Ngọc Vụ trong sách Tiếp cận văn hóa HMông, hiện nay có 5 ngành Mông chính: HMông Đơ, HMông Lềnh, HMông Giua (Xanh), HMông Đu (Đen), HMông Si (Đỏ).
Trang phục của phụ nữ Mông độc đáo và nổi bật: “Hầu hết đều được thêu thùa, trang trí hoa văn, họa tiết cầu kỳ, tinh xảo mang sắc thái vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên” [30, tr221]. Trang phục ấy ngoài chức năng sử dụng, còn ẩn chứa ý nghĩa về văn hóa: “Hoa văn trang trí trên áo, váy người phụ nữ HMông còn gửi gắm tình cảm, ước vọng về một cuộc sống tốt đẹp” [30, tr221]. Đồ trang sức của phụ nữ Mông: gồm khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, vòng chân, nhẫn được chế tác tinh xảo. Trang phục của nam giới Mông mỗi vùng miền có nét khác nhau đôi chút.
Cụ thể: “Ở vùng biên giới phía Bắc, nam giới HMông mặc áo đính cúc vải, quần 13 c rộng ống, đầu đội các loại mũ thông dụng. Trang phục nam giới HMông phía Tây Bắc, chủ yếu ngành HMông Đơ mặc áo ngắn, cài chéo khuy nách, tay dài có hoa văn ở cánh tay, quần lá tọa rộng đũng, hai ống có xu thế bó lại, đầu đội khăn trắng không nhuộm hoặc nhuộm qua” [30, tr220]. Trưởng thành từ những cuộc thiên di, người Mông có tiếng nói và chữ viết riêng. Dân tộc Mông tuy có nhiều ngành nhưng tiếng nói cơ bản thống nhất.
Tiếng Mông thuộc họ Nam Á, ngữ hệ Mèo - Dao. Về cơ bản, tiếng Mông và chữ viết hiện nay đều thống nhất cùng một loại. Người Mông sống quần tụ trong từng bản có vài chục nóc nhà và thích sống khép kín. Nhiều nơi đồng bào xây tường đá ngang đầu quanh nhà ở.
Họ thường ở nhà đất trình tường lợp ngói hay nhà gỗ lợp mái tranh phên vách. Cấu trúc chung của ngôi nhà truyền thống gồm ba gian, hai cửa chính và hai cửa sổ trở lên. Gian giữa rộng nhất có cửa chính nhìn về phía trước, là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và dùng để tiếp khách. Cửa chính được làm từ gỗ tốt hoặc thân trúc, mai già.
Cửa mở vào trong chứ không mở ra ngoài và không sử dụng bản lề, then chốt bằng sắt mà làm từ gỗ. Trong tâm linh, cánh cửa nhà của người Mông chính là lòng dạ chủ nhà, vì thế nên kiêng kị dùng sắt thép bởi đây là chất liệu của dao kiếm. Một điểm nhấn quan trọng nữa là cây cột trong nhà của người Mông - biểu hiện cho tinh thần của chủ nhà. Vì thế nên cột được chọn phải là cây rừng không bị sâu, thối hay bị cụt ngọn để thể hiện sự ngay thẳng, cứng cáp, vững vàng của gia chủ.
Vách sau của gian giữa là chỗ thiêng. Tiếp gian bên cạnh là buồng ngủ và bếp. Đầu hồi nhà có một cửa phụ, chính là lối đi lại hàng ngày của các thành viên trong gia đình. Nhà ở của người Mông không chỉ phù hợp với điều kiện sống đặc trưng của họ mà còn thể hiện quan niệm về mặt tín ngưỡng, tâm linh.
Ở đa số địa phương có người Mông sinh sống, việc trao đổi hàng hóa chủ yếu diễn ra ở chợ phiên theo lịch sáu ngày họp một lần. Ngày nay, đa số các địa phương đã điều chỉnh thống nhất họp vào ngày chủ nhật. Trong đó, phải kể đến một phiên chợ độc đáo: “chợ tình” Khau Vai (ở huyện Mèo Vạc - Hà Giang) mỗi năm chỉ họp một lần vào đêm 27/3 âm lịch gắn với sự tích về một mối tình dang dở. Vào những ngày chợ phiên, người Mông đi trẩy chợ đem các sản vật họ tự làm ra để bán và mua những vật dụng thiết yếu mà họ không làm ra được.
14 c Trong sinh hoạt hàng ngày, người Mông trân trọng, nâng niu việc ăn uống và xem đó là biểu hiện của văn hóa giao tiếp. Ẩm thực của người Mông giản dị nhưng không kém phần độc đáo. Bữa cơm hàng ngày của người Mông gồm cơm (ngoài cách nấu thông thường thì còn chế biến bằng hình thức khác như rang, nắm hoặc nấu thành cháo) ăn kèm với canh rau, củ. Họ còn có một số món được chế biến cầu kì và giàu dinh dưỡng như: xôi ngũ sắc, phở chua; các loại bánh phong phú.
Món ăn độc đáo làm nên “thương hiệu” cho ẩm thực Mông phải kể tới thắng cố và rượu ngô. Thắng cố và rượu ngô là bộ đôi song hành, không thể thiếu trong các phiên chợ nói riêng và một số lễ hội của người Mông nói chung. Phong tục, tập quán của người Mông rất phong phú và giàu bản sắc, bao gồm: phong tục ăn tết, nghi lễ cưới xin, tang ma và các sinh hoạt cộng đồng khác. Người Mông tính lịch theo 12 con giáp, gọi là pua chu (puôs tsus), mỗi năm chẵn 12 tháng.
Trong một năm, người Mông thường ăn hai Tết lớn: Tết mừng năm mới và Tết mùng 5 tháng 5. Không theo nông lịch phương Đông như các tộc người khác nên người Mông tổ chức đón Tết năm mới sớm. Thời gian ăn Tết là dịp sum họp gia đình, họ mạc, gia tiên trong nhà, kể từ ngày 30 tháng Chạp đến hết ngày rằm tháng Giêng. Trong đó có bốn ngày quan trọng là ngày 30 tiễn biệt năm cũ, mồng Một đón năm mới, mồng Ba tiễn gia tiên và Tết Rằm, còn gọi là Đại Tết hay Tết Mẹ.
Ngày 30, nếp nhà được dọn dẹp sạch sẽ, ban thờ trang hoàng bằng giấy bản, giấy tiền cho tiên tổ về ngự ở đó. Các dụng cụ sản xuất được nghỉ ngơi và được chủ nhân cảm tạ bằng cách xếp chúng lại nơi bàn thờ. Hội nổi bật vào dịp ăn Tết đón xuân là “gầu tào”, tổ chức từ ngày mồng hai do một gia đình nào đó làm chủ hội. Chủ hội là trường hợp có sinh vô dưỡng hoặc sinh con một bề gái, chăn nuôi sản xuất có nguy cơ lụi bại hay nhà có người ốm đau lâu ngày chữa trị, cúng bái không khỏi.
Đây là dịp gặp gỡ tăng thêm tình cố kết cộng đồng, nên hội nào càng thu hút đông người thì chủ hội càng tốt phúc. Với lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời, phong tục cưới xin của người Mông có nét độc đáo riêng. Người Mông có một luật lệ được duy trì từ đời này sang đời khác: chế độ một vợ một chồng. Trước đây, trong cộng đồng dân tộc Mông tồn tại tục “cướp vợ” đã gây ra không ít hệ lụy đau buồn và thiệt thòi cho người phụ nữ.
Người thanh niên cùng bạn bè tìm cách “cướp” người con gái yêu thích về ở nhà mình vài hôm rồi thông báo cho gia đình nhà gái biết. Sau này, 15 c được chuyển thành tục “kéo vợ” vẫn với hình thức như vậy nhưng bản chất đã khác đi. Các cặp đôi đến với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện. Đám cưới của người Mông thường được tổ chức linh đình vào ngày lành tháng tốt, thường là vào mùa xuân vì người ta rất kiêng làm đám cưới vào những tháng có sấm sét.
Mặt khác, người ta cho rằng mùa xuân là mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở mà con người không nằm ngoài vòng quay đó. Khi đã kết hôn, vợ chồng người Mông rất ít bỏ nhau, họ sống với nhau hòa thuận, cùng làm ăn, cùng lên nương, xuống chợ. Bên cạnh những nét đẹp văn hóa, tiến bộ thì trong đời sống tinh thần của dân tộc Mông tồn tại không ít hủ tục lạc hậu. Điển hình là việc tổ chức đám ma cho người chết và nghi lễ cúng ma.
Trước kia, ma chay của người Mông thường được tổ chức kéo dài từ 5 - 7 ngày. Ngày nay giảm xuống còn từ 2 - 3 ngày. Khi gia đình có người chết, họ đi mời thầy mo đến làm thủ tục cúng hát mở đường, sau đó mới tiến hành khâm liệm (áo ngoài bằng lanh thì mới được đoàn tụ với tổ tiên). Sau đó, mỗi nơi có một cách khác nhau: có nơi để người chết trên “cáng” treo trước bàn thờ hoặc để trên ghế dài đặt ngang cửa ra vào.
Có nơi người chết được đặt vào quan tài nhưng không đậy nắp để dễ dàng xem mặt người chết. Trong đám ma người Mông dùng khèn và trống để thực hiện nghi lễ tiễn đưa người chết về với tổ tiên được êm đẹp. Sau khi chôn cất xong, nếu là nam giới, người ta cắm chín cành lá, nữ giới cắm bảy cành để đánh lạc hồn người chết không quay về làm hại những người thân trong gia đình. Lễ cúng đưa hồn người chết về với tổ tiên sau khi chôn cất hoặc kéo dài một hay vài năm.
Bên cạnh thờ cúng tổ tiên, người Mông còn tồn tại một hệ thống ma nhà với những lễ thức cúng bái riêng biệt. Cụ thể, họ có một số nghi lễ cúng ma như sau: “Xử Cả”, “Bùa Đáng” (ma lợn) , “Xìa Mình” (ma cửa), “Hú Sinh” (ma bếp), “Nhìu Đáng” (ma trâu). Các nghi lễ cúng ma này, tuy bắt nguồn từ mong ước về tiền tài vật chất và sức khỏe nhưng lại chứa đựng không ít quan niệm thiên lệch, lạc hậu. Tóm lại, với một số lượng cư dân trải dài ở nhiều tỉnh thành, dân tộc Mông không chỉ là một cộng đồng đông đúc mà còn còn là cộng đồng giàu bản sắc văn hóa.