Chương 1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐÔNG SƠN Đông Sơn là một huyện đồng bằng của châu thổ Sông Mã, nằm ở trung tâm của tỉnh Thanh Hoá, cách 5 km về phía Tây thành phố. Đông Sơn là một vùng đất được kiến tạo trên một địa hình tương đối ổn định, có đồng bằng mầu mỡ phì nhiêu, có hệ thống núi đồi gò bãi phong phú, và còn có cảnh quan rất đẹp, hài hoà. Đông Sơn là huyện có nhiều tiềm năng đất đai và con người, có vị trí quan trọng về kinh tế, văn hoá xã hội của tỉnh Thanh Hoá. Địa lý tự nhiên Về diện tích.
Đông Sơn là huyện có diện tích nhỏ nhất tỉnh Thanh Hoá. Theo số liệu thống kê năm 2003, Đông Sơn có diện tích là 10635,42 ha. Bình quân diện tích tự nhiên là 0,1 ha/người. Về địa giới.
Phía Đông giáp thành phố Thanh Hoá, gồm các xã, thị trấn: Đông Hưng, Đông Tân, Đông Lĩnh và thị trấn Rừng Thông; phía Tây giáp huyện Triệu Sơn, gồm các xã: Đông Hoàng, Đông Ninh, Đông Hoà, Đông Yên, Đông Văn, Đông Phú; phía Nam giáp huyện Quảng Xương, gồm các xã: Đông Nam và Đông Vinh; phía Bắc giáp huyện Thiệu Hoá, gồm các xã: Đông Lĩnh, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Khê, Đông Hoàng. Về địa hình. Địa hình huyện Đông Sơn tương đối bằng phẳng, thấp, trũng, hướng dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam; có núi, đồi xen lẫn đồng bằng. Về đất đai, thổ nhưỡng.
Đất đai huyện Đông Sơn hình thành chủ yếu do quá trình trầm tích, là kết quả của lắng đọng các mẫu chất, đất từ nơi khác do nước chuyển tới. Đồng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Thanh Tâm - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá đất của Đông Sơn hình thành chủ yếu do phù sa của sông Chu và sông Mã bồi đắp nên có độ mùn khá cao, các chất dinh dưỡng trong đất phong phú, phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là thuận lợi cho canh tác nông nghiệp. Ngoài ra, Đông Sơn còn có một diện tích đất không nhỏ thường bị úng nước mưa mùa hè, phân bố ở địa hình thấp, trũng hoặc lòng chảo của vùng châu thổ. Nhìn chung, đất Đông Sơn tốt cả về hoá tính và lý tính, không chua, thích hợp với các loại cây lương thực và cây công nghiệp [195/17].
Về khí hậu, sông ngòi. Khí hậu của huyện Đông Sơn cũng như các huyện trong vùng đồng bằng Thanh Hoá, đều chịu sự ảnh hưởng, chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Sông ngòi của Đông Sơn gồm có 2 sông chính là sông Hoàng và thuỷ nông sông Chu. Ngoài ra còn có trên 325ha ao hồ phân bố hầu hết các xã trong huyện [195/11-12].
Về tài nguyên, khoáng sản. Đông Sơn là một trong những huyện của Thanh Hoá có đồi, núi đá vôi phong phú, nằm rải rác ở các xã trong huyện với trữ lượng khoảng 20 triệu m3. Phần lớn các núi đá này có chất lượng tốt, đáp ứng cho nhu cầu xây dựng các công trình vĩnh cửu, làm đá mỹ nghệ, ôplat có giá trị cao. Đặc biệt là đá núi Nhồi: “Ở phía Tây Nam huyện, có một quả núi lớn và cao gọi là núi An Hoạch,… Sắc đá óng ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt.
Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo đá làm khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia văn chương thì còn mãi ngàn đời”[2]. Đá núi Nhồi được hình thành cách ngày nay khoảng 200 - 300 triệu năm, là loại đá không liền tấm, cứng nhưng không giòn, không có tạp chất, mịn, các khối đá tạo thành từng lớp có độ dày mỏng khác nhau. Ngoài ra, huyện Đông Sơn còn có các tài nguyên khác như: đất sét (dùng làm gạch, ngói, gốm, sứ,. tiêu biểu là đất sét Đông Ngàn, xã Đông Vinh); than bùn; nước ngầm;… 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Thanh Tâm - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá 1.
Địa lý hành chính 1. Tên huyện và Lỵ sở huyện Đông Sơn - Tên huyện Thời thuộc Hán - Tam Quốc - Lưỡng Tấn, “Đông Sơn là miền đất thuộc huyện Tư Phố và một phần thuộc huyện Cư Phong. Theo “Di Biên của Cao Biền” thì lúc này có huyện Đông Dương, sau gọi là Đông Cương tức là Đông Sơn sau này” [188/259]. Thời Tuỳ Đường đến thời Đinh - Tiền Lê - Lý, Đông Sơn vẫn là vùng đất thuộc vào huyện Cửu Chân [226/130].
Thời Trần - Hồ, phủ lộ Thanh Hoá gồm có 7 huyện và 3 châu. Cụ thể là: huyện Cổ Đằng, Cổ Hoằng, Đông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, Yên Định, Lương Giang, châu Thanh Hoá, châu Ái, châu Cửu Chân. Tên gọi Đông Sơn bắt đầu từ đây. Thời thuộc Minh, Trấn Thanh Đô đổi thành phủ Thanh Hoá, lãnh 4 châu và 11 huyện, trong đó có Đông Sơn [195/27].
Thời Lê - Nguyễn. Thanh Hoa lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu. Huyện Đông Sơn lúc này thuộc vào phủ Thiệu Thiên. Năm Gia Long thứ 14 (1815) đổi phủ Thiệu Thiên thành phủ Thiệu Hoá.
Năm 1928, huyện Đông Sơn được đổi gọi là phủ Đông Sơn. - Lỵ sở của huyện. Trước thời Nguyễn, lỵ sở của huyện Đông Sơn đóng ở xã Cổ Đô (làng Vạc) tức xã Thiệu Đô, huyện Thiệu Hoá ngày nay. Năm Gia Long thứ 7 (1808) dời về xã Thạch Khê (tức Ke Rủn), tổng Thạch Khê, nay là xã Đông Khê.
Đến năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), lỵ sở huyện dời đến xã Thọ Hạc (nay thuộc Thành phố Thanh Hoá), gọi là phủ Đông (địa điểm ga Thanh Hoá ngày nay) [195/28-29]. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tên huyện Đông Sơn vẫn giữ nguyên. Huyện lỵ Đông Sơn đóng ở Rừng Thông (nay là thị trấn Rừng Thông) 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Thanh Tâm - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá 1. Địa danh làng xã.
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, nhất là Khảo cổ học và Sử học cho thấy, Đông Sơn là một trong những vùng đất cổ nhất của Thanh Hoá và cương vực lúc đó rộng gấp nhiều lần hiện nay. “Kẻ” - một từ chỉ địa danh cổ nhất nước ta, còn lưu danh ở nhiều vùng ở Đông Sơn, như: Kẻ Trổ, Kẻ Dậu, Kẻ Môi, Kẻ Thìa, Kẻ Trầu, Kẻ Chiếu, Kẻ Rủn, Kẻ Bôn, Kẻ Chẻo, Kẻ Bụt, …. Và những từ chỉ địa danh như: xá, trang, ấp, phường, vạn, … cũng xuất hiện và có không ít ở vùng đất này như: Nguyên Xá, Lê Xá, Ngô Xá, Quảng Xá, Bồ Lồ trang, phường Vạn Niên, … là những bằng chứng sinh động về sự phong phú và đa dạng của một vùng đất cổ nổi tiếng của Thanh Hoá. Theo tiến trình phát triển của xã hội, những từ chỉ địa danh hành chính đó đã sự thay đổi.
như: Kẻ Bôn chuyển thành Cổ Bôn; Kẻ Rủn chuyển thành làng Rủn (nay là xã Đông Khê); Kẻ Bụt chuyển thành thôn Cửa Bụt; Kẻ Lậu chuyển thành thôn Ngọc Lậu; … Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX, vào thời kỳ này Đông Sơn gồm có 6 tổng (Thọ Hạc, Thạch Khê, Đại Bối, Vận Quy, Quang Chiếu, Lê Nguyễn), 145 xã, thôn, trang, vạn, giáp, sở, phường [223/111]. Dưới thời vua Minh Mệnh, một số tên tổng, làng, xã của huyện Đông Sơn được đổi tên, như: tổng Lê Nguyễn đổi thành tổng Thanh Hoa; xã Nguyễn Xá (tổng Vận Quy) đổi thành tổng Quy Xá; xã Ngọc Đôi (tổng Thạch Khê) đổi thành xã Ngọc Tích;… chia tổng Thọ Hạc thành 2 tổng (Thọ Hạc và Bố Đức); tổng Quang Chiếu thành 2 tổng (Quang Chiếu và Quảng Chiếu). Lúc này, huyện Đông Sơn gồm có 8 tổng. Đến nửa sau thế kỷ XIX, dưới thời Tự Đức, tên gọi một số thôn, làng của huyện Đông Sơn đã thay đổi.
Theo Đồng Khánh dư địa chí, cuối thế kỷ XIX, hai tổng Thạch Khê và Tuyên Hoá được chia làm 3 tổng (Tuyên Hoá, Thạch Khê và Thanh Khê). Đông Sơn gồm có 9 tổng (Thọ Hạc, Đại Bối, Bố 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Thanh Tâm - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá Đức, Vận Quy, Thạch Khê, Thanh Khê, Tuyên Hoá, Quang Chiếu, Quảng Chiếu), bao gồm 147 xã, phường, giáp, vạn. Đầu thế kỷ XX, tổng Thanh Khê sau đổi thành Kim Khê, tổng Quang Chiếu đổi thành Viễn Chiếu. Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900), nhà Nguyễn cắt 2 tổng Vận Quy và Đại Bối nhập vào huyện Thuỵ Nguyên (nay thuộc huyện Thiệu Hoá).
Huyện Đông Sơn còn lại 7 tổng: Thọ Hạc, Bố Đức, Viễn Chiếu (Quang Chiếu), Quảng Chiếu, Tuyên Hoá, Kim Khê (Thanh Khê), Thạch Khê. Đến năm Bảo Đại thứ 3 (1928), huyện Đông Sơn đổi thành phủ Đông Sơn, gồm có 7 phủ với 115 làng và 5. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1946, huyện Đông Sơn đã chia 7 tổng cũ thành 22 xã. Từ sau năm 1954 đến nay, huyện Đông Sơn nhiều lần thay đổi tên huyện và các cuộc tách nhập giữa các xã của huyện Đông Sơn với các xã ở cấp huyện khác, cùng với đó là các quyết định thành lập thị trấn Rừng Thông (năm 1992) và thị trấn Nhồi (năm 2006).
Hiện nay, huyện Đông Sơn bao gồm 19 xã và 2 thị trấn. Đó là: Thị trấn huyện lỵ Rừng Thông, thị trấn Nhồi và các xã Đông Anh, Đông Hoà, Đông Hoàng, Đông Hưng, Đông Khê, Đông Lĩnh, Đông Minh, Đông Nam, Đông Ninh, Đông Phú, Đông Quang, Đông Tân, Đông Tiến, Đông Thanh, Đông Thịnh, Đông Văn, Đông Vinh, Đông Xuân, Đông Yên. Dân cư và các ngành nghề truyền thống 1. Dân cư Vùng đất Đông Sơn không chỉ là nơi đầu tiên phát hiện được di vật của văn hoá Đông Sơn có niên đại cách ngày nay khoảng 2.820 năm, mà nơi đây còn phát hiện được nhiều dấu tích cư trú, hoạt động vật chất của chủ nhân văn hoá Đông Sơn.
Trên lưu vực sông Mã, người ta đã phát hiện được nhiều di tích khảo cổ thuộc về văn hoá Đông Sơn với đủ các loại hình: di tích cư trú, mộ táng, di chỉ - xưởng, quan trọng hơn cả là việc phát hiện công xưởng chuyên 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Thanh Tâm - Nghiên cứu văn bia huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá chế tác các công cụ sản xuất, vũ khí, đồ trang sức trên đất Đông Sơn. Các di tích này chủ yếu tập trung ở khu vực ngã ba sông trên địa bàn Đông Sơn. Từ kết quả khảo cổ, người ta cho rằng: vùng đất này không những chỉ là địa bàn gốc, mà còn là một trung tâm kinh tế - chính trị quan trọng của cư dân Đông Sơn trong buổi đầu dựng nước. Hiện nay, dân số của các xã trong huyện khá đông đúc và tỉ lệ tăng nhanh.
Theo số liệu năm 2003, dân số huyện Đông Sơn là 109.797 người, bao gồm 24.