Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu vai trò của nhóm gen mã hóa deubiquitinase và một số tín hiệu phân tử trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

Luận án tiến sĩ phân tích sinh học nghiên cứu vai trò của nhóm gen mã hóa deubiquitinase và một số tín hiệu phân tử trên bệnh, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

132
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu về bệnh tăng hồng cầu vô căn

1.2. Khái quát bệnh tăng hồng cầu vô căn

1.3. Một số nghiên cứu về kiểu hình miễn dịch trên bệnh tăng hồng cầu vô căn

1.4. Một số nghiên cứu về đột biến gen trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

1.5. Tế bào đơn nhân máu ngoại vi

1.5.1. Khái niệm và đặc điểm sinh học của tế bào đơn nhân máu ngoại vi

1.5.2. Chức năng của tế bào đơn nhân máu ngoại vi

1.5.3. Các marker sinh học liên quan đến quá trình apoptosis

1.5.4. Một số gen kiểm soát miễn dịch

1.5.5. Một số cytokine sử dụng trong nghiên cứu

1.5.6. Nghiên cứu sử dụng tế bào đơn nhân máu ngoại vi trên bệnh THCVC

1.6. Một số gen thuộc nhóm deubiquitinase và mối liên hệ với các tín hiệu phân tử

1.7. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước bệnh tăng hồng cầu vô căn

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng và tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.1.2. Dụng cụ, trang thiết bị

2.1.3. Hóa chất sử dụng

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Xét nghiệm sinh hóa máu

2.2.2. Tách huyết tương

2.2.3. Tách chiết DNA và RNA

2.2.4. Giải trình tự gen bằng kỹ thuật Sanger và phân tích dữ liệu

2.2.5. Tổng hợp cDNA

2.2.6. Real-Time PCR

2.2.7. Một số phương pháp tin sinh sử dụng trong luận án

2.2.8. Đưa siRNA vào trong tế bào đơn nhân máu ngoại vi

2.2.9. Phân lập và nuôi cấy tế bào đơn nhân máu ngoại vi

2.2.10. Đếm tế bào theo dòng chảy

2.2.11. Xác định sự di cư tế bào

2.2.12. ELISA phân tích nồng độ cytokine

2.2.13. Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả nghiên cứu trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.1. Chỉ số sinh hóa máu bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.2. Phân tích sự biểu hiện một số gen deubiquitinase trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.3. Mức độ biểu hiện một số gen tín hiệu trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.4. Biểu hiện một số gen kiểm soát miễn dịch trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.5. Phân tích đột biến gen JAK2 trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.6. Phân tích đột biến gen CYLD trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.7. Phân tích đột biến gen A20 trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.8. Phân tích đột biến gen Cezanne trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.9. Kiểu hình miễn dịch trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.1.10. Sự tiết cytokine và kháng nguyên ung thư ở bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

3.2. Kết quả nghiên cứu trên tế bào đơn nhân máu ngoại vi

3.2.1. Kết quả phân lập và nuôi cấy tế bào đơn nhân máu ngoại vi

3.2.2. A20 điều hòa kiểu hình miễn dịch tế bào đơn nhân máu ngoại vi

3.2.3. A20 điều hòa sự tiết cytokine

3.2.4. A20 điều hòa sự di cư tế bào đơn nhân máu ngoại vi

3.2.5. Protein A20 điều hòa quá trình apoptosis tế bào đơn nhân máu ngoại vi

3.2.6. Otubain-1 điều hòa chức năng tế bào đơn nhân máu ngoại vi

3.2.7. Otubain-1 điều hòa các sản phẩm cytokine

3.2.8. Otubain-1 điều hòa tín hiệu trong tế bào đơn nhân máu ngoại vi

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN

4.1. Đa hình và biểu hiện gen deubiquitinase, gen JAK2 và kiểu hình miễn dịch trên bệnh tăng hồng cầu vô căn

4.2. Biểu hiện một số gen tín hiệu trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

4.3. Vai trò gen A20 điều hòa chức năng tế bào đơn nhân máu ngoại vi

4.4. Vai trò gen Otubain-1 điều hòa chức năng tế bào đơn nhân máu ngoại vi

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

Phụ lục tài liệu

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bệnh tăng hồng cầu vô căn

Bệnh tăng hồng cầu vô căn (THCVC) là một dạng bệnh tăng sinh tủy ác tính (MPNs), đặc trưng bởi sự tăng sinh quá mức các tế bào dòng tủy. Bệnh này dẫn đến sự gia tăng bất thường của các tế bào máu, đặc biệt là hồng cầu, gây ra các vấn đề về lưu thông máu và tăng nguy cơ đông máu. Nguyên nhân chính của THCVC thường liên quan đến đột biến gen JAK2, đặc biệt là đột biến V617F, chiếm hơn 90% các trường hợp. Ngoài ra, sự biểu hiện bất thường của các gen deubiquitinasetín hiệu phân tử cũng được cho là có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của THCVC.

1.1. Khái quát bệnh tăng hồng cầu vô căn

Bệnh tăng hồng cầu vô căn (THCVC) thuộc nhóm bệnh tăng sinh tủy ác tính (MPNs), được đặc trưng bởi sự tăng sinh quá mức của các tế bào dòng tủy, dẫn đến sự gia tăng bất thường của hồng cầu, bạch cầu, và tiểu cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), THCVC là một trong sáu loại bệnh thuộc nhóm MPNs. Đột biến gen JAK2, đặc biệt là đột biến V617F, được xác định là nguyên nhân chính gây ra bệnh này, chiếm hơn 90% các trường hợp. Ngoài ra, các nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng sự biểu hiện bất thường của các gen deubiquitinase như A20, CYLD, và Cezanne có liên quan đến cơ chế bệnh sinh của THCVC.

II. Vai trò của gen deubiquitinase trong bệnh tăng hồng cầu vô căn

Các gen deubiquitinase (DUB) như A20, CYLD, Cezanne, và Otubain-1 đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa quá trình khử ubiquitin của protein. Sự bất hoạt của các gen này có thể dẫn đến sự rối loạn trong quá trình tín hiệu phân tử, đặc biệt là con đường NF-κBSTAT, góp phần vào sự phát triển của bệnh tăng hồng cầu vô căn. Nghiên cứu cho thấy rằng sự bất hoạt của gen A20CYLD làm tăng biểu hiện của các tín hiệu phân tử liên quan đến viêm và tăng sinh tế bào, từ đó thúc đẩy sự tiến triển của bệnh.

2.1. Vai trò của gen A20 và CYLD

Gen A20CYLD là hai gen deubiquitinase quan trọng trong việc điều hòa quá trình khử ubiquitin của protein. Sự bất hoạt của các gen này dẫn đến sự rối loạn trong quá trình tín hiệu phân tử, đặc biệt là con đường NF-κBSTAT, góp phần vào sự phát triển của bệnh tăng hồng cầu vô căn. Nghiên cứu cho thấy rằng sự bất hoạt của gen A20CYLD làm tăng biểu hiện của các tín hiệu phân tử liên quan đến viêm và tăng sinh tế bào, từ đó thúc đẩy sự tiến triển của bệnh.

2.2. Vai trò của gen Otubain 1

Gen Otubain-1 là một gen deubiquitinase khác có vai trò quan trọng trong việc điều hòa quá trình khử ubiquitin của protein. Sự bất hoạt của gen Otubain-1 có liên quan đến sự tăng sinh và di cư của tế bào, góp phần vào sự tiến triển của bệnh tăng hồng cầu vô căn. Nghiên cứu cho thấy rằng gen Otubain-1 ức chế hoạt động của tế bào NK và điều hòa các tín hiệu phân tử liên quan đến quá trình apoptosis.

III. Tín hiệu phân tử và cơ chế bệnh sinh

Các tín hiệu phân tử như NF-κB, STAT, và JAK2 đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của tăng hồng cầu vô căn. Sự rối loạn trong các con đường tín hiệu này dẫn đến sự tăng sinh bất thường của các tế bào máu, đặc biệt là hồng cầu. Nghiên cứu cho thấy rằng sự bất hoạt của các gen deubiquitinase như A20CYLD làm tăng biểu hiện của các tín hiệu phân tử liên quan đến viêm và tăng sinh tế bào, từ đó thúc đẩy sự tiến triển của bệnh.

3.1. Con đường NF κB và STAT

Các con đường NF-κBSTAT là hai con đường tín hiệu phân tử quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của tăng hồng cầu vô căn. Sự rối loạn trong các con đường này dẫn đến sự tăng sinh bất thường của các tế bào máu, đặc biệt là hồng cầu. Nghiên cứu cho thấy rằng sự bất hoạt của các gen deubiquitinase như A20CYLD làm tăng biểu hiện của các tín hiệu phân tử liên quan đến viêm và tăng sinh tế bào, từ đó thúc đẩy sự tiến triển của bệnh.

3.2. Vai trò của gen JAK2

Gen JAK2 là một gen quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của tăng hồng cầu vô căn. Đột biến V617F của gen JAK2 được xác định là nguyên nhân chính gây ra bệnh này, chiếm hơn 90% các trường hợp. Đột biến này làm tăng khả năng phosphoryl hóa của JAK2, dẫn đến sự tăng sinh bất thường của các tế bào máu, đặc biệt là hồng cầu.

IV. Ứng dụng trong điều trị bệnh tăng hồng cầu vô căn

Nghiên cứu về vai trò của các gen deubiquitinasetín hiệu phân tử trong bệnh tăng hồng cầu vô căn mở ra hướng điều trị mới cho bệnh nhân. Việc điều chỉnh biểu hiện của các gen này có thể giúp kiểm soát sự tăng sinh bất thường của các tế bào máu và cải thiện tình trạng bệnh. Ngoài ra, việc sử dụng các liệu pháp miễn dịch như tế bào tuatế bào NK cũng được nghiên cứu như một phương pháp điều trị tiềm năng cho bệnh nhân THCVC.

4.1. Liệu pháp điều chỉnh gen

Việc điều chỉnh biểu hiện của các gen deubiquitinase như A20, CYLD, và Otubain-1 có thể giúp kiểm soát sự tăng sinh bất thường của các tế bào máu và cải thiện tình trạng bệnh tăng hồng cầu vô căn. Nghiên cứu cho thấy rằng việc bất hoạt các gen này dẫn đến sự rối loạn trong quá trình tín hiệu phân tử, góp phần vào sự tiến triển của bệnh.

4.2. Liệu pháp miễn dịch

Các liệu pháp miễn dịch như tế bào tuatế bào NK đang được nghiên cứu như một phương pháp điều trị tiềm năng cho bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn. Nghiên cứu cho thấy rằng các liệu pháp này có thể giúp kiểm soát sự tăng sinh bất thường của các tế bào máu và cải thiện tình trạng bệnh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu vai trò của nhóm gen mã hóa deubiquitinase và một số tín hiệu phân tử trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về bệnh tăng hồng cầu vô căn 1.1 Khái quát bệnh tăng hồng cầu vô căn Bệnh tăng hồng cầu vô căn (Polycythaemia vera- PV) là bệnh ung thư máu thuộc nhóm bệnh tăng sinh tủy ác tính (Myeloproliferative neoplasms- MPNs), đặc trưng bởi sự tăng sinh quá mức các tế bào dòng tủy trưởng thành và chưa trưởng thành. Sự tăng sinh quá mức các tế bào dòng tủy dẫn tới sự tăng sinh vượt mức của các tế bào máu bao gồm: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) bệnh tăng sinh tủy được phân làm 6 loại bệnh bao gồm: bệnh đa hồng cầu hay còn gọi là bệnh THCVC, tăng tiểu cầu tiền phát (essential thrombocythaemia- ET) và xơ tủy nguyên phát (primary myelofibrosis- PM) được phân loại cùng với bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (chronic myelogenous leukaemia- CML), bạch cầu mạn dòng bạch cầu trung tính và bạch cầu mạn dòng bạch cầu ái toan (chronic neutrophilic leukaemia- CNL) [1]. Tăng sinh tủy là nhóm bệnh phát triển chậm trong đó mỗi loại bệnh trong nhóm đều ảnh hưởng tới nhiều loại tế bào máu khác nhau.

Ba trong số các bệnh tăng sinh tủy bao gồm THCVC, tăng tiểu cầu nguyên phát và xơ tủy nguyên phát có đặc điểm chung là không chứa nhiễm sắc thể Philadelphia (Ph) là nhiễm sắc thể số 22 có chứa tổ hợp gen BCR-ABL1 [2]. Tế bào ác tính trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn (https://www.net/rumanahameed1/polycythemia-vera-rumana) Bệnh THCVC là bệnh phổ biến nhất trong nhóm bệnh tăng sinh tủy với đặc điểm là sự tăng lên bất thường của số lượng tế bào hồng cầu (Hình 1. Đây là bệnh phát sinh trong quá trình rối loạn hình thành tế bào gốc tạo máu, tuy nhiên ban đầu 6 bệnh có thể có những biểu hiện như tăng hồng cầu, tăng bạch cầu và tăng tiểu cầu hay sự kết hợp của các triệu chứng trên với lách to hay xơ tủy nguyên phát [3]. Tại Hoa Kỳ, báo cáo dịch tễ năm 2014 cho thấy có 148.000 người đang mắc bệnh THCVC với tỷ lệ rơi vào khoảng 2,5-10 người/ 100.

Bệnh THCVC là bệnh có tỷ lệ mắc và sống sót sau 5 năm phụ thuộc vào độ tuổi. Ở Châu Âu, số liệu thống kê từ những năm 1995 đến 2002 cho thấy, tỷ lệ sống sau 5 năm của THCVC là 84,8% (81,5–87,5%) và tỷ lệ sống sót tương đối giảm xuống còn 79,4% ở những người 70 tuổi [4]. Đến thời điểm hiện tại các nhà khoa học vẫn chưa có sự đồng thuận trong chẩn đoán và điều trị chứng bệnh THCVC [5, 6].2 Một số nghiên cứu về kiểu hình miễn dịch trên bệnh tăng hồng cầu vô căn Bệnh THCVC được đặc trưng bởi sự dư thừa hồng cầu và sự tham gia chủ yếu của dòng hồng cầu với sự tăng sinh ấy có thể thay đổi các dòng megakaryocytic hoặc bạch cầu hạt [7]. Năm 2015, nghiên cứu trên 20 bệnh nhân dương tính với JAK2V617F trong đó 14 bệnh nhân mắc bệnh THCVC và 6 bệnh nhân mắc bệch tăng tiểu cầu tiền phát (ET) đã chỉ ra rằng, interferon-α thay đổi rõ rệt số lượng tế bào T điều hòa (CD4+ CD25+ Foxp3+), tế bào NK và tế bào DC [8].

Nghiên cứu khác chỉ ra rằng tỷ lệ tế bào NK tăng lên ở bệnh nhân THCVC so với nhóm khỏe mạnh, mặc dù khả năng gây độc tế bào của tế bào NK ở bệnh nhân THCVC so với người khỏe mạnh là tương tự nhau [9]. Bệnh nhân THCVC có số lượng tăng các tế bào T CD8+ nhớ cùng với sự biểu hiện của phân tử MHC-1 trên bề mặt tế bào giảm đi, chính vì thế khả năng tiêu diệt tế bào ung thư bị giảm đi đáng kể [10]. Đột biến JAK2V617F được phát hiện trong tất cả các tế bào dòng tủy và một số ít tế bào dòng lympho. Điều này đã đặt ra câu hỏi cho các nghiên cứu trên bệnh THCVC rằng liệu đột biến này có tần suất xảy ra khác biệt trên tế bào dòng lympho và dòng tủy hay không? Nghiên cứu về sự hiện diện của đột biến JAK2V617F trong các tế bào máu ngoại vi từ bệnh THCVC đã phát hiện ra rằng đột biến JAK2V617F trong tế bào B và NK xảy ra ở một số ít bệnh nhân mắc bệnh THCVC.

Bên cạnh đó, đột biến JAK2V617F cũng được phát hiện trong tất cả các tế bào T có nguồn gốc từ tế bào CD34+ bệnh THCVC [11]. Ngoài ra, nghiên cứu 7 trên tế bào NK từ chuột đột biến JAK2V617F đã chỉ ra rằng, tế bào NK trên chuột đột biến có khả năng tăng sinh và hoạt hóa thấp hơn so với tế bào NK kiểu dại. Ngoài ra, tế bào NK từ chuột đột biến JAK2V617F thiếu khả năng điều hòa miễn dịch, do đó hoạt động của hệ miễn dịch trong những con chuột này không bình thường [13]. Tiếp đó, sự thay đổi biểu hiện một số gen như gen CASP2, CASP3, DAPK1, ALG2 của tế bào CD34+ từ tủy xương của bệnh nhân THCVC đã được chỉ ra liên quan đến sự phát triển ác tính của tế bào gốc tạo máu trong bệnh THCVC.

Trong số các gen thay đổi biểu hiện, gen quy định các yếu tố tăng trưởng kích thích xơ hóa (TGF-β1, TGF-β2, BMP-2 và VEGF) được biểu hiện ở mức cao hơn đáng kể trong các tế bào CD34+ trong bệnh THCVC [12].3 Một số nghiên cứu về đột biến gen trên bệnh nhân tăng hồng cầu vô căn Nhiều nghiên cứu ở cấp độ phân tử trên những bệnh nhân THCVC để có thể hiểu thêm về cơ chế bệnh sinh, từ đó tìm ra được phương pháp trị liệu phù hợp. Nghiên cứu ở cấp độ phân tử đã cho thấy một số kết quả về các đột biến gen xuất hiện trong bệnh THCVC. Hầu hết các bệnh nhân THCVC đều cho thấy sự xuất hiện của đột biến trên gen JAK2 và đó chính là đột biến JAK2 V617F [14]. Đột biến JAK2 V617F được coi là một marker cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh THCVC.

Kiểm tra đột biến JAK2 V617F được cho là cần thiết cho việc xác định và chẩn đoán sớm từ giai đoạn 1 của bệnh THCVC. Năm 2003 Bench và cộng sự đã đưa ra hướng dẫn riêng cho việc chẩn đoán chứng THCVC bằng việc xét nghiệm đột biến JAK2 V617F [15]. Ngoài đột biến JAK2 V617F, ở những bệnh nhân THCVC trên gen JAK2 cũng nhận thấy xuất hiện đột biến trên exon số 12. Không giống như đột JAK2 V617F xuất hiện ở hầu hết các bệnh nhân THCVC, đột biến trên exon số 12 của gen này chỉ nhận thấy ở 2% đến 3% các bệnh nhân THCVC.

Tuy nhiên so với đột biến JAK2 V617F, đột biến trên exon 12 của gen JAK2 có xu hướng trẻ hơn với nồng độ hemoglobin cao hơn, số lượng bạch cầu và tiểu cầu thấp hơn cùng với sự gia tăng hồng cầu mà không có bất thường về hình thái bạch cầu hạt [16]. 8 Bên cạnh đột biến trên gen JAK2, các đột biến trên gen Calretaculin (CALR) cũng được nghiên cứu và báo cáo ở trên những bệnh nhân THCVC. CALR nằm ở vị trí chromosome 19p13.2 và chứa 9 exon kéo dài 4,2 kb. Nghiên cứu trên đối tượng là chuột cho thấy, chuột bị loại bỏ CALR thường chết trước khi được sinh ra.

Chuột mất gen CALR sẽ bị suy tim hoặc tim chậm phát triển. Bên cạnh đó, nếu gen CALR biểu hiện quá mức cũng dẫn tới sự khiếm khuyết về tim sau khi sinh [17]. CALR có vai trò quan trọng và được cho là tham gia vào quá trình cân bằng Ca2+ nội môi, giúp phân giải các protein được sản xuất lỗi, bám dính tế bào, đáp ứng miễn dịch ung thư và thực bào. Bất thường của biểu hiện CALR đã được báo cáo trong các bệnh ung thư khác nhau [18].

Nghiên cứu của Misa Imai và cộng sự năm 2013 đã báo cáo đột biến CARL mới (mất và chèn ở exon 9) và JAK2 ở bệnh tăng tiểu cầu nguyên phát. Trong tăng tiểu cầu nguyên phát, đột biến gen CALR có mức độ huyết sắc tố thấp hơn, số lượng bạch cầu thấp hơn, số lượng tiểu cầu cao hơn và khả năng sống sót tốt hơn so với đột biến trên gen JAK2 [19]. Cho đến nay, tất cả các đột biến CARL được tìm thấy trong tăng sinh tủy đều liên quan đến exon 9. Đột biến gen CALR hiếm khi xuất hiện ở bệnh THCVC còn đột biến gen MPL thì gần như không có.

Kể từ khi được miêu tả vào năm 1892 đến nay, hơn 125 năm đã qua nhưng nguyên nhân về bệnh tăng hồng cầu vô căn vẫn chưa hoàn toàn được sáng tỏ [20]. Bệnh THCVC được cho rằng xuất hiện do sự rối loạn trong quá trình hình thành các tế bào máu. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm ra cơ chế hình thành bệnh THCVC. Kết quả của nhiều nghiên cứu đưa ra cho thấy đột biến của gen JAK là một trong những nguyên nhân dẫn tới THCVC.

Đột biến gen JAK2-V617F gây tăng khả năng phosphoryl hóa của JAK2, dẫn tới tăng sinh quá mức của các tế bào dòng tủy [21]. Trên 90% người mắc bệnh đa hồng cầu nguyên phát đều có đột biến này. Nghiên cứu di truyền tế bào và đột biến gen JAK2 cho thấy các bất thường về di truyền tế bào trong THCVC không phải là biểu hiện đặc hiệu khi chưa tới 25% số bệnh nhân có bất thường về di truyền tế bào [21]. Sự bất thường trong kiểu nhân (karyotypic) thường gặp nhất ở những bệnh nhân mắc THCVC là mất đoạn 20q, trisomies 8 và 9, tuy nhiên tỷ lệ phát hiện gần như không đáng kể khi đánh giá bằng kỹ thuật sử dụng lai huỳnh quang tại chỗ (FISH- Fluorescence in situ hybridization).

Tương tự, các nghiên cứu dựa trên kỹ thuật FISH 9 trong các tế bào tủy xương từ những bệnh nhân THCVC, với karyotype bình thường không cho thấy sự mất đoạn liên quan đến vùng nhiễm sắc thể 20q11 khi quan sát dưới kính hiển vi [22]. Nhiễm sắc thể 9p24 chứa gen JAK2, gần đây đã được chứng minh là mang đột biến điểm V617F soma ở exon 14 xuất hiện trong phần lớn bệnh nhân mắc bệnh THCVC [23]. Quá trình truyền tín hiệu của protein JAK2 [24] JAK (Janus kinases) là một họ protein truyền tín hiệu nội bào bao gồm bốn thành viên: JAK1, JAK2, JAK3 và Tyk2. JAK được kích hoạt khi xảy ra sự gắn của phối tử với các thụ thể trung gian.

Thông qua quá trình gắn của phối tử và thụ thể này làm thay đổi cấu trúc không gian của thụ thể truyền tin, hai protein JAK tiếp tục được đưa đến gần nhau, cho phép phosphoryl hóa giữa hai protein JAK và hoạt hóa phân tử JAK. Các protein JAK được kích hoạt sau đó phosphoryl hóa các mục tiêu bổ sung, bao gồm cả các thụ thể và các protein STAT (Signal Transducer and Activator of Transcription) là protein hoạt hóa phiên mã (Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu vai trò của gen deubiquitinase và tín hiệu phân tử trong bệnh tăng hồng cầu vô căn là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc khám phá cơ chế phân tử đằng sau bệnh tăng hồng cầu vô căn. Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của gen deubiquitinase trong việc điều chỉnh các quá trình tế bào liên quan đến bệnh lý, đồng thời phân tích các tín hiệu phân tử có khả năng ảnh hưởng đến sự phát triển và tiến triển của bệnh. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu và bác sĩ, giúp họ hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và mở ra hướng điều trị mới dựa trên liệu pháp gen và phân tử.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến cơ chế phân tử và gen, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa kiểu gen và kiểu hình đặc trưng trong bảo tồn chó phú quốc, nơi khám phá mối liên hệ giữa gen và đặc điểm hình thái. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu nồng độ serp5 rbp4 il18 huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cung cấp thêm góc nhìn về vai trò của các phân tử trong bệnh lý. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học khảo sát tiềm năng ức chế enzyme chuyển hóa angiotensin của dịch thủy phân protein từ con hến là một nghiên cứu thú vị về tác động của enzyme trong các quá trình sinh học. Hãy khám phá để có cái nhìn toàn diện hơn!