ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự phát triển về mặt kinh tế, khoa học và kỹ thuật, các phúc lợi và nhân văn, đặc biệt là dịch vụ chăm sóc sức khỏe con ngƣời cũng đƣợc cải thiện đáng kể. Các cơ sở khám chữa bệnh đƣợc gia tăng về cả số lƣợng và chất lƣợng. Một mặt, ngành y tế đang từng bƣớc đáp ứng đƣợc nhu cầu về khám chữa bệnh của ngƣời dân Việt Nam. Mặt khác, sự phát triển của ngành y tế đã kéo theo các vấn đề về môi trƣờng, mà nguyên nhân chủ yếu là do lƣợng chất thải sinh ra vƣợt quá khả năng xử lý, trong đó đáng kể nhất là nƣớc thải.
Hiện nay, nƣớc thải bệnh viện đang đƣợc xem là một trong những mối quan tâm, lo ngại vì mức độ phức tạp và tính chất nguy hại cao. Thành phần nƣớc thải bệnh viện có chứa các vi khuẩn gây bệnh, thuốc kháng sinh, chất phóng xạ, kim loại nặng và hóa chất độc hại là mối nguy hại tiềm tàng đối với môi trƣờng và sức khỏe của con ngƣời đƣợc đặt ra cấp thiết, nhƣng đòi hỏi sự nỗ lực của các nhà khoa học và quản lý [12]. Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên với quy mô 600 giƣờng bệnh là bệnh viện tuyến Trung ƣơng có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và chữa trị số lƣợng lớn các bệnh nhân(Bộ Y tế, 2015). Tuy nhiên, với một lƣu lƣợng lớn nƣớc thải sinh ra hằng ngày, vấn đề an toàn vệ sinh môi trƣờng của bệnh viện đang trở nên quan tâm trong thời gian gần đây.
Mặc dù bệnh viện đã đƣợc xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung nhằm bảo vệ môi trƣờng, tuy nhiên, qua khảo sát thực tiễn cho thấy vấn đề xử lý nƣớc thải tại bệnh viện chƣa thực sự triệt để và hiệu quả. Vì vậy, để hệ thống xử lý nƣớc thải bệnh viện đƣợc hoàn thiện hơn, góp phần bảo vệ môi trƣờng, đề tài “Nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên” đã đƣợc thực hiện. Nghiên cứu đã tìm hiểu, đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý nƣớc thải tại bệnh viện, trên cơ sở những đánh giá đó, đề tài đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống xử lý hiện có. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu chung về ngành y tế Việt Nam Theo thống kê của Bộ Y tế, tính đến năm 2014 trên toàn Việt Nam có 1070 bệnh viện, 47 khu điều dƣỡng phục hồi cá nhân, 285 phòng khám đa khoa khu vực, với tổng số giƣờng bệnh 254300 giƣờng, chiếm 98,5%.
Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nƣớc đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế cá nhân bao gồm 19895 cơ sở ngành y, 14048 cơ sở ngành dƣợc, 7015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viên tƣ có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài chiếm 1,5% và đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải của các bệnh viện nhà nƣớc [12]. Về mạng lƣới y tế cơ sở Việt Nam hiện nay đã có trên 60% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số xã có trạm y tế trong đó 2/3 xã đạt tiêu chuẩn quốc gia. Tuy nhiên sự phát triển chƣa đồng đều ở mỗi cấp, vùng, miền. Việc đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe ngƣời dân chƣa đƣợc đảm bảo [12].
Về nhân lực trong ngành,Việt Nam có hệ thống các trƣờng đại học Y, Dƣợc phân bố đều trên cả nƣớc. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩ và dƣợc sĩ đại học tốt nghiệp ra trƣờng. Ngoài ra còn có hệ thống các trƣờng đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dƣợc, nha sĩ tại địa phƣơng. Ngành y hiện tại của Việt Nam đang đƣợc nhiều tồ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và vốn NGO, tính đến năm 2010 Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn 1 tý USD, các dự án đƣợc phân bố đều ờ khác các vùng miền [12].
Về mặt quản lý, hệ thống bệnh viện đƣợc phân cấp nhƣ sau: - 32 bệnh viện gồm 10 bệnh viện đa khoa, 2 bệnh viện y học cổ truyền, 20 bệnh viện chuyên khoa do Bộ y tế quản lý. 2 - 981 bệnh viện gồm 224 bệnh viện đa khoa tỉnh, 46 bệnh viện y học cổ truyền, 142 bệnh viện chuyên khoa và 659 bệnh viện tuyến huyện, thị xã do địa phƣơng quản lý. -72 bệnh viện do ngành khác quản lý. Nhƣ vậy có thể thấy, ngành y tế đang đƣợc quan tâm đầu tƣ rất lớn, do đó đòi hỏi các yêu cầu khắt khe không chỉ các dịch vụ khám chữa bệnh mà còn về chất lƣợng vệ sinh môi trƣờng của các bệnh viện trên toàn quốc.2 Tổng quan về nƣớc thải bệnh viện ở Việt Nam 1.
Nguồn gốc, đặc tính và tính chất của nước thải bệnh viện a. Nguồn gốc nước thải của bệnh viện Nƣớc thải bệnh viện là một dạng nƣớc thải sinh hoạt đô thị và chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lƣu lƣợng nƣớc thải sinh hoạt của khu dân cƣ. Dòng thải chứa chủ yếu các chất hữu cơ có nguồn gốc từ sinh hoạt của con ngƣời. Tuy nhiên, do đặc thù của hoạt động khám chữa bệnh, nƣớc thải bệnh viện còn phát sinh ra các nguồn khác nhau.
Cụ thể, nƣớc thải bệnh viện chủ yếu phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau: + Sinh hoạt của bệnh nhân, ngƣời nhà bệnh nhân, cán bộ công nhân viên. + Các phòng khám, thì nghiệm, phẫu thuật, xét nghiệm, pha chế thuốc, tẩy khuẩn… + Từ việc lau chùi vệ sinh khu làm việc, các trang thiết bị… + Khu nhà bếp và dịch vụ ăn uống. + Nƣớc chảy tràn. Đặc tính nước thải của bệnh viện Do phát sinh từ các nguồn thải khác nhau, nên đặc tính của nƣớc thải bệnh viện tƣơng đối phức tạp.
Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trƣờng trong nƣớc thải bệnh viện gây ra là: + Chất lơ lửng; + Các hóa chất độc hại nhƣ: chất phóng xạ, chất hữu cơ, chất tẩy rửa… + Các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh: Tụ cầu, liên cầu, vi rút tiêu hóa… + Các mầm bệnh sinh học khác nhau có trong máu, dịch đờm… Nƣớc thải bệnh viện có các chỉ số đặc trƣng đƣợc nêu ở bảng 1.1: Một số chỉ số cơ bản của nước thải bệnh viện Chỉ số BOD COD SS H2S T-N T-P Colifiorm Giá trị 128- COD 150- H2S 6- 50-90 3-12 106 – 109 280 12 ml/l 300 8 mg/l mg/l mg/l MNP/100 mg/l mg/l ml (Nguồn: Theo QCVN 28:2010/BTNMT - Nước thải Y tế) Bảng 1.1 cho thấy nƣớc thải bệnh viện thƣờng có tổng hàm lƣợng cặn lơ lửng (SS), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), nhu cầu oxy hóa học (COD), hàm lƣợng Nito, Photpho cao và đặc biệt là Coliform vƣợt quá QCVN 28:2010/BTNMT – Nƣớc thải y tế cho phép từ 2 – 10 lần.Với tính chất nhƣ vậy, nƣớc thải y tế là một nguồn có khả năng gây ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hƣởng lớn không chỉ đến sức khỏe con ngƣời mà còn cả môi trƣờng mà nó thải vào. Do vậy, nƣớc thải từ các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh cần đƣợc xử lý triệt để các thành phần ô nhiễm trƣớc khi thải ra nơi tiếp nhận.2 Vấn đề môi trường do nước thải bệnh viện Nƣớc thải y tế phát sinh trong quá trình khám và chữa bệnh có chứa các vi khuẩn có khả năng gây bệnh từ đờm, dịch tiết từ cơ thể của ngƣời bệnh. Các mầm bệnh, các vi khuẩn gây bệnh sẽ phát tán vào môi trƣờng theo dòng chảy mặt, gây nguy hại cho con ngƣời và môi trƣờng sống. Đặc biệt, nếu xả nƣớc thải y tế trực tiếp vào nguồn nƣớc mặt nhƣ sông, hồ, ao.
Nhiều mầm bệnh có trong nƣớc sẽ phát triển, lây nhiễm vào những đối tƣợng tiếp xúc trực tiếp với chúng và lây lan thành dịch bệnh. Một số loại virus nguy hiểm có khả năng lây nhiễm cao nhƣ Adenovirus, Pliovirus (gây bệnh bại liệt và nhiều bệnh khác), Echovirus, Hepatitis A virus (bệnh viêm gan siêu vi B), Rotavirus (bệnh tiêu chảy). Nhiều loại vi khuẩn tồn tại trong chất thải của bệnh nhân có thể gây nên các dịch bệnh nguy hiểm nhƣ dịch tả, kiết lị, thƣơng hàn, tiêu chảy… Những loại bệnh này đặc biệt nguy hiểm, có thể gây chết ngƣời và có tính lây lan nhanh. 4 Các loại hóa chất điều trị ung thƣ và các sản phẩm chuyển hóa nếu xả thẳng ra môi trƣờng nƣớc mà không đƣợc xử lý sẽ có khả năng tích lũy, gây biến chứng lâu dài nhƣ quái thai, ung thƣ cho những ngƣời tiếp xúc.3 Tổng quan về công nghệ xử lý nƣớc thải bệnh viện 1.1 Hiện trạng xử lý nước thải tại các bệnh viện Hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam đều đƣợc xây dựng hệ thống thoát nƣớc thải và trạm xử lý nƣớc thải.
Tuy nhiên, các hệ thống xử lý nƣớc thải đều không đƣợc hoạt động hoặc đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, nhiều đoạn cống hƣ hỏng, mất nắp, tắc nghẽn… dẫn tới tình trạng nhiều bệnh viện bị ngập úng vào mùa mƣa. Tính tới năm 2010 mới có khoảng hơn 40% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế đáp ứng đủ quy định nhƣng nhiều nơi rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Số bệnh viện còn lại chƣa có hoặc đã có nhƣng hệ thống xử lý chất thải chƣa theo đúng quy định. Trong đó bệnh viện Trung ƣơng vẫn còn tới 25%, bệnh viện tuyến tỉnh còn gần 50%, bệnh viện tuyến huyện lên tới 60% [12].
Hiện nay một số hệ thống xử lý nƣớc thải mới xây dựng đã đƣợc thiết kế tách riêng nƣớc thải và nƣớc mƣa chảy tràn. Nƣớc thải đƣợc dẫn theo hệ thống thu gom tới trạm xử lý nƣớc thải của bệnh viện, trong khi đó nƣớc mƣa đƣợc dẫn trực tiếp vào hệ thống thoát nƣớc chung của thành phố hoặc vào nguồn tiếp nhận khác, điều này giúp làm giảm lƣu lƣợng nƣớc thải cần xử lý. Bên cạnh đó, còn nhiều hệ thống xử lý nƣớc thải của các bệnhviện không đi vào hoạt động thƣờng xuyên hoặc kém hiệu quả. Chính vì thế dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng các khu vực tiếp nhận nƣớc thải.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả của hệ thống xử lý nƣớc thải có thể là: - Các công trình xây dựng từ lâu, xây dựng không đúng theo tiêu chuẩn của nhà nƣớc, xây dựng ở khu vực không thích hợp chịu ảnh hƣởng của kết cấu đất. - Việc quản lý vận hành và bảo quản chƣa tốt, không đạt yêu cầu. 5 - Thiếu kinh phí vận hành.