ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, các hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm môi trƣờng có tính chất nghiêm trọng ở khu vực nông thôn nƣớc ta. Nguyên nhân là do tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nƣớc trong vùng lãnh thổ. Môi trƣờng nƣớc ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nƣớc thải, khí thải và chất thải rắn. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải.
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nƣớc ở sông, hồ, kênh, mƣơng bị ô nhiễm, ảnh hƣởng lớn đến môi trƣờng nƣớc và sức khỏe nhân dân. Do nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trƣờng nƣớc. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hóa chất trong nuôi trồng thủy sản khiến các thức ăn thừa lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trƣờng nƣớc bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thủy triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam. Nhận thức của công dân và cộng đồng đang sống và làm việc tại các khu vực nông thôn về vấn đề môi trƣờng còn chƣa cao.
Ngƣời dân nông thôn chƣa có ý thức BVMT. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất; việc xả nƣớc, rác thải; sử dụng nƣớc không đảm bảo vệ sinh, việc đầu tƣ các công trình phục vụ đời sống và sức khỏe (bể nƣớc, cống rãnh thoát nƣớc, hố xí.), việc tham gia công tác vệ sinh môi trƣờng cộng đồng… còn hạn chế. Đặc biệt, trong hoạt động quản lý, BVMT còn nhiều bất cập. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ BVMT chƣa đầy đủ, chƣa thấy rõ đƣợc nguy cơ ô nhiễm môi 1 trƣờng khu vực nông thôn sẽ có tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó có sức khỏe ngƣời dân.
Đội ngũ cán bộ quản lý môi trƣờng còn ít về số lƣợng, bất cập về chất lƣợng. Hiện nay Việt Nam mới chỉ có gần 30 cán bộ quản lý môi trƣờng/1 triệu dân so sánh với một số nƣớc trong khối ASEAN là 70 ngƣời/1 triệu dân. Xã Đức Thắng đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa trong sản xuất kéo theo đó là những tác động không nhỏ đến môi trƣờng nhƣ ô nhiễm nguồn nƣớc, chất thải rắn,. đang ngày càng trở lên nghiêm trọng Nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn liền với hoạt động bảo vệ môi trƣờng nhiều dự án đã đƣợc triển khai.
Tuy nhiên nhiều dự án không đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại là do thiếu sự tham gia của cộng đồng dân cƣ - những ngƣời trực tiếp chịu tác động phản hồi lại của môi trƣờng. Xuất phát từ thực tế đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng tại xã Đức Thắng - Tiên Lữ - Hưng Yên”. 2 C ƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QLMT DỰA TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 1.1 Khái niềm về quản lý môi trƣờng dựa trên cơ sở cộng đồng (CBEM- Community Based Environment Management) Theo Arnstein (1969) các hình thức quản lý khác nhau nằm trong hai hình thức cơ bản là quản lý hành chính nhà nƣớc và quản lý cộng đồng.
Ngoài ra đồng quản lý hay quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng(QLNLDVCĐ) là hình thức quản lý trung gian giữa hai hình thức trên. QLNLDVCĐ là một hình thức hợp tác giữa cộng đồng và nhà chức trách trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm trong quản lý và lợi ích. Theo Đỗ Kim Chi Community - Based Environment Managerment (CBEM) là phƣơng pháp bảo vệ môi trƣờng dựa trên cơ sở vấn đề môi trƣờng cụ thể của từng địa phƣơng thông qua việc tập hợp các cá nhân, tổ chức cần thiết để giải quyết vấn đề đó. Phƣơng pháp này sử dụng các công cụ sẵn có để tập trung cải tạo hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó hay tạo ra lợi ích về môi trƣờng nhƣ tái tạo năng lƣợng, phục hồi lƣu vực.
Và đồng quản lý tài nguyên đó thông qua sự hợp tác giữa các đối tác chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cƣ. Phƣơng pháp quản lý môi trƣờng dựa vào cộng đồng là lấy cộng đồng làm trọng tâm trong việc quản lý môi trƣờng. Đƣa cộng đồng tham gia trực tiếp vào hệ thống quản lý môi trƣờng, họ trực tiếp tham gia vào nhiều công đoạn của quá trình quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện. Đây là hình thức quản lý đi từ dƣới lên, thực hiện theo nguyên vọng, nhu cầu thực tế và ý tƣởng của chính cộng đồng trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò nhƣ một công cụ hỗ trợ, thúc đẩy cho các hoạt động cộng đồng 1.2 Vai trò của ngƣời dân trong quản lý môi trƣờng dựa vào cộng đồng.
Sự tham gia của ngƣời dân địa phƣơng làm cho dự án phù hợp hơn với đặc điểm nhu cầu của địa phƣơng. Thông qua việc tham khảo ý kiến của 3 ngƣời dân, hay ngƣời dân đóng góp ý kiến sẽ cung cấp những thông tin có giá trin cho dự án. Do vậy dễ đƣợc chấp nhận và khả năng bền vững cao hơn. Bởi lẽ họ có kiến thức về địa bàn sinh sống, chính vì vậy họ nắm rõ các đặc thù điều kiện tự nhiên cũng nhƣ vấn đề văn hóa, xã hội ở địa bàn, nắm rõ các nhu cầu cũng nhƣ các phƣơng tiện hiện có của quản lý.
Các quyết định có sự tham gia của cộng đồng sẽ trở nên có cơ sở thực tiễn và đây là căn cứ đảm bảo cho tính khả thi của các quyết định về quản lý môi trƣờng về mặt kinh tế. Ngƣời dân tham gia vào dự án sẽ giúp dự án có thể tiếp tục vẫn hành tốt và có hiệu quả sau khi dự án kết thúc. Bởi vì dự án đem lại lợi ích cho họ và có thể nhân rộng ra nhằm giải quyết vấn đề trên phạm vi rộng hơn. Sự tham gia của ngƣời dân sẽ góp phần điều tiết trong sử dụng nguồn lực đảm bảo tính bền vững trong quản lý môi trƣờng, tài nguyên thiên nhiên đƣợc sử dụng hiệu quả nhất khi biết vận dụng kiến thức của ngƣời dân và huy động đƣợc các nguồn lực tài chính có sẵn trong cộng đồng vào việc làm kinh tế, từ đó tạo cơ hội tăng thu nhập cho ngƣời dân.
Có sự tham gia của cộng đồng sẽ đảm bảo giám sát và đánh giá các chƣơng trình liên quan đến quản lý tổng hợp, duy trì đƣợc các hoạt động thông qua hợp tác trong cộng đồng và thể chế hóa sự tham gia của cộng đồng. Những dự án từ khi bắt đầu đến khi vận hàn thì đều phải gắn với môi trƣờng dân cƣ trong vùng, ngƣời dân trong vùng là ngƣời hiểu rõ nhất những nảy sinh, những hiện tƣợng khi dự án hoạt động. Họ sẽ là ngƣời đƣa ra những đánh giá chugn thực nhất, sát sao nhất về dự án qua đó đánh gia đƣợc thực chất của dự án. Sự tham gia của cộng đồng vào dự án sẽ giải quyết đƣợc vấn đề về nhận thức của ngƣời dân thông qua sự tác động lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng.
Ngƣời dân sống trong cộng đồng nên họ dễ dàng chia sẻ và bảo ban nhau vì vậy khi có ngƣời vi phạm hay đƣợc ngƣợc lại hoạt động của quản lý thì họ là ngƣời tác động đem lại hiệu quả nhất.3 Các nguyên tắc trong quản lý môi trƣờng dựa vào cộng đồng. Nguyên tắc: Xác định danh giới rõ ràng. Nguyên tắc này cho rằng việc tổ chức quản lý dựa vào cộng đồng phải đựa phân bố rõ ràng, cụ thể tới từng đối tƣợng. Xác định đƣợc đối tƣợng cần quản lý từ đó tiếp tục chia nhỏ đối tƣợng quản lý để dễ phân chia công việc.
Phải phân bố rõ ràng từng công việc tới từng đối tƣợng nếu không dễ dẫn tới tình trạng không biết đƣợc mình quản lý những gi hay đối tƣợng thuộc ai quản lý. Tránh tình trạng “Cha chung không ai khóc”. Trong quá trình phân công công việc, phân công trách nhiệm phải chú ý là phân công đƣợc tất cả công việc tới tất cả đối tƣợng tham gia không đƣợc sảy ra tình trạng ngƣời muốn tham gia không đƣợc tham gia hay công việc dồn quá nhiều vào một ngƣời, nhƣ thế dễ sảy ra xung đột trong quản lý. Nguyên tắc :Cân đối giữa chi phí và lợi ích.
Để lôi kéo đƣợc ngƣời dân tham gia vào công việc quản lý môi trƣờng cần có cơ chế tăng thu nhập cho họ. Tức là cần gắn kết giữa mục tiêu quản lý môi trƣờng và thu nhập của ngƣời dân. Ngƣời dân tham gia vào công việc quản lý MT khi họ tìm thấy ở đó lợi ích đem lại cho họ mà ngoài lợi ích gián tiếp là lợi ích trực tiếp thu nhập hàng ngày của họ.Khi ngƣời dân tham gia vào các hoạt động kinh tế mà do các dự án tổ chức thì họ phải thu đƣợc thu nhập từ các hoạt động này để duy trỳ đời sống của mình và gia đình, vì thế mà các dự án ngoài việc đầu tƣ cho các hoạt động phục vụ mục đích chính cần hỗ trợ ngƣời dân ở đó phát triển kinh tế đảm bảo ngƣời dân tham gia là có lợi ích về mặt kinh tế. Nguyên tắc : Được đưa ra, được tiếp thu ý kiến.
Cộng đồng dân cƣ đƣợc phép và đƣợc khuyến khích đƣa ra ý kiến của mình trong các cuộc thảo luận. Họ đƣợc đƣa ra nhứng đánh giá về hoạt động của hệ thống quản lý. Ngƣời dân địa phƣơng thông quá việc đóng góp những ý kiến sẽ cung cấp cho cơ quản quản lý cao hơn những thông tin, những phản hồi từ phía họ. Những vấn đề mà ngƣời dân có thể gặp phải khi hệ thống đi 5 vào vận hành.