Nghiên cứu giải pháp quản lý môi trường cộng đồng tại xã Đức Thắng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên

Khám phá giải pháp quản lý môi trường dựa vào cộng đồng cho xã Đức Thắng, Tiên Lữ, Hưng Yên. Nâng cao nhận thức, hành động bảo vệ môi trường.

Trường đại học

Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

69
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QLMT DỰA TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG

1.1. Khái niệm về quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng (CBEM- Community Based Environment Management)

1.2. Vai trò của người dân trong quản lý môi trường dựa vào cộng đồng

1.3. Các nguyên tắc trong quản lý môi trường dựa vào cộng đồng

1.4. QLMT dựa trên cơ sở cộng đồng tại Việt Nam

1.4.1. Quá trình phát triển QLMT dựa trên cộng đồng tại Việt Nam

1.4.2. Tình hình nghiên cứu xây dựng các mô hình QLMT cộng đồng ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Quan điểm nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp luận

2.4.3. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

2.4.4. Phương pháp điều tra

2.4.5. Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (PRA)

2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu nội nghiệp

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

3.1.1. Vị trí địa lý

3.2. Điều kiện kinh tế xã hội

3.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội

3.2.2. Dân số và lao động

3.3. Hiện trạng môi trường

3.4. Hạ tầng kỹ thuật

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tổng quan đối tượng điều tra

4.2. Thực trạng công tác quản lý môi trường

4.2.1. Tổ chức mạng lưới công tác quản lý môi trường

4.2.2. Hiện trạng hoạt động của mạng lưới QLMT

4.2.3. Chính sách chung cho CBQL và người dân tham gia QLMT

4.2.4. Đánh giá chung về công tác QLMT ở khu vực

4.3. Các yếu tố thúc đẩy và hạn chế sự tham gia của cộng đồng trong QLMT

4.3.1. Các yếu tố thúc đẩy

4.3.2. Các yếu tố hạn chế

4.4. Đánh giá sự tham gia của cộng đồng trong QLMT

4.4.1. Đánh giá sự tham gia của cộng đồng đối với các chương trình dự án về Môi trường tại khu vực

4.4.2. Đánh giá sự tham gia của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu bằng biểu đồ SAM, chỉ số bền vững sinh thái Downjone và độ đo sự tham gia của cộng đồng - CPM (Community Participatory Measure)

4.5. Đề xuất giải pháp

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý môi trường dựa vào cộng đồng tại Đức Thắng

Quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng là một phương pháp tiếp cận tiên tiến, đặt người dân vào vị trí trung tâm của mọi hoạt động bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Thay vì áp đặt các quy định từ trên xuống, mô hình này trao quyền, trách nhiệm và lợi ích trực tiếp cho cộng đồng địa phương. Tại xã Đức Thắng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, nơi đang đối mặt với những thách thức môi trường do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, việc áp dụng phương pháp này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nghiên cứu thực tế cho thấy, các dự án môi trường thường thất bại khi thiếu sự tham gia của cộng đồng – những người chịu ảnh hưởng trực tiếp và hiểu rõ nhất về các vấn đề tại địa phương. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng tại xã Đức Thắng không chỉ là một đề tài khoa học mà còn là yêu cầu cấp bách để hướng tới phát triển bền vững tại Hưng Yên. Phương pháp này tập trung vào việc huy động kiến thức bản địa, nguồn lực sẵn có và tinh thần tự nguyện của người dân, từ đó xây dựng các mô hình tự quản môi trường bền vững, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Cách tiếp cận này giúp các quyết định quản lý trở nên thực tiễn hơn, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả lâu dài. Khi người dân được tham gia từ khâu lập kế hoạch đến giám sát, họ sẽ có ý thức trách nhiệm cao hơn, góp phần tạo ra những thay đổi tích cực và bền vững cho môi trường sống của chính mình và các thế hệ tương lai.

1.1. Tầm quan trọng của vai trò cộng đồng trong bảo vệ môi trường

Cộng đồng địa phương đóng một vai trò không thể thay thế trong công tác bảo vệ môi trường. Họ là những người có kiến thức sâu sắc về đặc điểm tự nhiên, văn hóa và xã hội tại nơi sinh sống. Theo nghiên cứu, vai trò cộng đồng trong bảo vệ môi trường thể hiện rõ qua việc cung cấp thông tin thực tiễn, giúp các dự án và chính sách trở nên phù hợp và dễ được chấp nhận hơn. Khi người dân tham gia đóng góp ý kiến, các quyết định quản lý sẽ có cơ sở vững chắc, đảm bảo tính khả thi về kinh tế và kỹ thuật. Hơn nữa, sự tham gia này còn giúp các dự án tiếp tục vận hành hiệu quả sau khi kết thúc, vì cộng đồng nhận thấy lợi ích trực tiếp và có động lực để duy trì. Cộng đồng cũng là lực lượng giám sát hiệu quả nhất. "Những dự án từ khi bắt đầu đến khi vận hành thì đều phải gắn với môi trường dân cư trong vùng, người dân trong vùng là người hiểu rõ nhất những nảy sinh, những hiện tượng khi dự án hoạt động," trích từ tài liệu nghiên cứu. Họ có thể phát hiện và phản ánh kịp thời các sai phạm, đảm bảo dự án đi đúng hướng và đạt được mục tiêu đề ra.

1.2. Giới thiệu mô hình quản lý môi trường tại xã Đức Thắng

Hệ thống quản lý môi trường tại xã Đức Thắng được phân cấp rõ ràng từ cấp tỉnh đến cấp thôn. Ở cấp tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) Hưng Yên chịu trách nhiệm chung. Cấp huyện có Phòng TN&MT huyện Tiên Lữ. Tại cấp xã, UBND xã Đức Thắng trực tiếp quản lý, với hai cán bộ địa chính kiêm nhiệm công tác môi trường. Cấp cuối cùng là trưởng thôn, phó thôn, đóng vai trò cầu nối giữa chính quyền và người dân. Mặc dù có cơ cấu tổ chức, hệ thống này bộc lộ nhiều hạn chế. Số lượng cán bộ chuyên trách còn quá ít, phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ, dẫn đến việc quản lý chưa sâu sát và chuyên môn hóa. Đặc biệt, cán bộ cấp cơ sở chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng và kiến thức quản lý môi trường, gây khó khăn cho việc triển khai các hoạt động một cách bền vững. Đây chính là rào cản lớn, đòi hỏi phải có một mô hình quản lý môi trường hiệu quả hơn, tăng cường sự phối hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân.

II. Thách thức ô nhiễm môi trường tại Tiên Lữ Hưng Yên

Xã Đức Thắng nói riêng và huyện Tiên Lữ nói chung đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường tại Tiên Lữ ngày càng nghiêm trọng. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng, đặc biệt là trong nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, đã tạo ra áp lực lớn lên hệ sinh thái. Việc lạm dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp không chỉ gây ô nhiễm đất mà còn tác động tiêu cực đến chất lượng nguồn nước. Thêm vào đó, nước thải sinh hoạt và chất thải từ các hộ chăn nuôi hầu hết đều được xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý, gây ô nhiễm nặng nề cho các kênh mương và sông ngòi. Theo khảo sát, nhận thức của một bộ phận người dân về bảo vệ môi trường còn rất hạn chế. Thói quen vứt rác bừa bãi, xả thải trực tiếp đã tồn tại từ lâu và khó thay đổi. Bên cạnh đó, công tác quản lý của chính quyền địa phương còn nhiều bất cập. Sự thiếu hụt về nhân lực, kinh phí và các chính sách môi trường của tỉnh Hưng Yên chưa đủ mạnh đã khiến cho hoạt động bảo vệ môi trường xã Đức Thắng chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Những thách thức này đòi hỏi một chiến lược quản lý toàn diện, bắt đầu từ việc phân tích sâu sắc thực trạng để tìm ra giải pháp phù hợp.

2.1. Phân tích thực trạng môi trường huyện Tiên Lữ đáng báo động

Thực trạng môi trường huyện Tiên Lữ cho thấy nhiều vấn đề cấp bách. Nguồn nước mặt, chủ yếu từ sông Luộc và hệ thống ao hồ, đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hình ảnh những khúc sông đầy rác thải sinh hoạt, xác động vật chết đã trở nên phổ biến, gây mất mỹ quan và bốc mùi hôi thối. "Công tác quản lý bị bỏ rơi trong một thời gian dài và sự thiếu ý thức của người dân địa phương dẫn đến việc ô nhiễm nguồn nước," tài liệu nghiên cứu chỉ rõ. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp mà còn đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng. Đội ngũ cán bộ quản lý mỏng, phân tán và phải kiêm nhiệm nhiều việc khác nên không thể bao quát hết các hoạt động gây ô nhiễm. Việc thiếu vốn đầu tư cho các công trình xử lý nước thải sinh hoạt càng làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn.

2.2. Hạn chế trong quản lý rác thải sinh hoạt tại nông thôn

Công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại nông thôn ở Đức Thắng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Mặc dù đã có các đội thu gom rác ở các thôn, hoạt động của họ không thực sự hiệu quả. Nguyên nhân chính là do ý thức của một bộ phận người dân chưa cao. Nhiều hộ dân vẫn giữ thói quen vứt rác trực tiếp xuống sông hoặc đổ ra đường cho tiện lợi. Khi được phỏng vấn, một người dân cho biết: “đổ rác ra sông thế này tiện hơn mà không cần phải đợi đội thu rác đến vì họ mấy ngày mới đi thu gom 1 lần”. Điều này cho thấy sự thiếu đồng bộ giữa hoạt động thu gom và thói quen của người dân. Ngoài ra, kinh phí duy trì các đội thu gom chủ yếu dựa vào sự đóng góp của người dân, không có sự hỗ trợ từ chính quyền, gây khó khăn cho việc duy trì hoạt động lâu dài và ổn định. Việc thiếu các điểm tập kết và xử lý rác thải đúng quy chuẩn cũng là một hạn chế lớn.

III. Phương pháp quản lý môi trường cộng đồng hiệu quả CBEM

Để giải quyết các thách thức hiện hữu, phương pháp Quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng (Community-Based Environmental Management - CBEM) được xem là lời giải tối ưu. Đây là hình thức quản lý theo nguyên vọng, nhu cầu thực tế và ý tưởng của chính cộng đồng, trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò hỗ trợ, thúc đẩy. CBEM phá vỡ rào cản giữa các bên liên quan, tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia quản lý và xác lập khả năng tự quản. Mô hình này không chỉ giúp giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể mà còn góp phần nâng cao nhận thức môi trường cho người dân. Quá trình triển khai CBEM đòi hỏi sự đồng thuận và hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức và cộng đồng. Bằng cách trao quyền cho người dân tham gia vào quá trình ra quyết định, từ việc xác định vấn đề, lập kế hoạch đến thực hiện và giám sát, CBEM đảm bảo các giải pháp đưa ra vừa hiệu quả, vừa bền vững. Cách tiếp cận này giúp cân bằng giữa lợi ích kinh tế - xã hội và lợi ích môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Việc áp dụng thành công mô hình CBEM sẽ tạo ra một mô hình quản lý môi trường hiệu quả, có khả năng nhân rộng tại các địa phương khác có điều kiện tương tự.

3.1. Nguyên tắc cốt lõi của mô hình tự quản môi trường CBEM

Một mô hình tự quản môi trường dựa trên CBEM vận hành hiệu quả cần tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi. Thứ nhất, Xác định ranh giới rõ ràng: Phân công cụ thể trách nhiệm quản lý cho từng đối tượng, tránh tình trạng “cha chung không ai khóc”. Thứ hai, Cân đối giữa chi phí và lợi ích: Gắn kết mục tiêu bảo vệ môi trường với lợi ích kinh tế trực tiếp của người dân để khuyến khích sự tham gia. Thứ ba, Được đưa ra và tiếp thu ý kiến: Khuyến khích cộng đồng đóng góp ý kiến, cung cấp thông tin phản hồi giá trị cho nhà quản lý. Thứ tư, Người dân tham gia giám sát: Trao quyền cho người dân giám sát các hoạt động của dự án để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả. Cuối cùng, Thưởng, phạt rõ ràng: Xây dựng cơ chế khen thưởng những cá nhân, tập thể làm tốt và xử lý các hành vi vi phạm để tạo động lực và duy trì kỷ luật trong cộng đồng.

3.2. Quy trình triển khai sự tham gia của cộng đồng 7 bước

Việc triển khai sự tham gia của cộng đồng vào quản lý môi trường theo mô hình CBEM thường diễn ra theo một quy trình 7 bước. Bước 1: Xác định thách thức của cộng đồng thông qua thảo luận để tìm ra các vấn đề môi trường ưu tiên. Bước 2: Chỉ định người triệu tập là người có uy tín, có khả năng lãnh đạo và kết nối. Bước 3: Xây dựng nhóm làm việc cộng đồng bao gồm đại diện chính quyền, doanh nghiệp, người dân. Bước 4: Xây dựng sự nhất trí dựa trên nguyên tắc công bằng, cởi mở thông qua các cuộc họp. Bước 5: Đề ra các mục tiêu cụ thể về kinh tế, xã hội, môi trường. Bước 6: Xây dựng giải pháp tích hợp và lập kế hoạch hành động chi tiết. Bước 7: Ký kết thỏa thuậnthực hiện dự án với sự phối hợp đồng bộ giữa các bên. Quy trình này đảm bảo tính hệ thống, minh bạch và hiệu quả cho toàn bộ dự án.

IV. Kết quả nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng tại Đức Thắng

Kết quả nghiên cứu về quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng tại xã Đức Thắng đã chỉ ra một bức tranh đa chiều về nhận thức và hành động của người dân. Mặc dù các chương trình tuyên truyền đã được tổ chức, mức độ tham gia tích cực của cộng đồng vẫn còn hạn chế. Đa số người dân nhận thức được tầm quan trọng của môi trường, nhưng hành động thực tế chưa tương xứng. Một trong những rào cản lớn nhất là yếu tố chính sách. Khảo sát cho thấy 100% người dân cho rằng họ không được hưởng lợi ích gì khi tham gia hoạt động bảo vệ môi trường xã Đức Thắng, khiến họ không hào hứng. Về phía cán bộ quản lý, 90% cho biết chưa được hưởng bất kỳ chế độ trợ cấp nào. Ông Bùi Xuân Đài - Trưởng thôn Lạc Dục khẳng định: “tất cả các hoạt động quản lý môi trường ở địa phương như thu gom rác thải, vệ sinh đường làng ngõ xóm đều là do người dân tự đóng góp chứ chưa hề có sự hỗ trợ nào của chính quyền”. Điều này cho thấy sự thiếu vắng các cơ chế khuyến khích vật chất và tinh thần, tạo ra khoảng cách giữa nhà quản lý và người dân, làm giảm hiệu quả của công tác quản lý chung.

4.1. Đánh giá tác động môi trường qua nhận thức của người dân

Việc đánh giá tác động môi trường qua lăng kính của người dân cho thấy sự thay đổi tích cực trong nhận thức nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong ý thức. Kết quả khảo sát chỉ ra, 80% ý kiến cho rằng chất lượng môi trường ngày càng suy giảm, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe. Đặc biệt, 65% số người được hỏi nhận thức được rằng nguồn nước sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu trong tương lai nếu tiếp tục sử dụng như hiện nay. Tuy nhiên, khi đối mặt với các vấn đề ô nhiễm cụ thể, thái độ của nhiều người vẫn còn thờ ơ. Có tới 32/60 người được phỏng vấn cho biết họ không quan tâm đến vấn đề ô nhiễm tại địa phương. Bà Thanh - thôn An Lạc chia sẻ: “Nước thải được đổ ra ngay ra các đường... nhưng không làm gì được, từ xưa đã vậy rồi và lại cũng không thấy ảnh hưởng gì quá nên thôi mặc kệ”. Sự mâu thuẫn giữa nhận thức chung và hành động cá nhân này là một thách thức lớn cần giải quyết.

4.2. Các yếu tố thúc đẩy và rào cản trong công tác QLMT

Công tác quản lý môi trường tại Đức Thắng có cả yếu tố thúc đẩy và rào cản. Về mặt thúc đẩy, sự phát triển kinh tế giúp cải thiện đời sống người dân, tạo điều kiện để họ tham gia các hoạt động cộng đồng. Trình độ dân trí ngày càng cao cũng là nền tảng thuận lợi cho việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức môi trường cho người dân. Tuy nhiên, các rào cản vẫn còn rất lớn. Thói quen xả thải bừa bãi đã ăn sâu vào tiềm thức, thiếu vốn đầu tư cho các công trình xử lý môi trường, và đặc biệt là các chính sách khuyến khích chưa phù hợp. Quan điểm quản lý vẫn mang nặng tính áp đặt, chưa thực sự lắng nghe nguyện vọng của người dân. Những hạn chế này làm suy giảm lòng tin và sự tham gia tích cực của cộng đồng, khiến các nỗ lực bảo vệ môi trường trở nên kém hiệu quả.

4.3. Phân tích mức độ tham gia bằng biểu đồ SAM và chỉ số EDI

Để lượng hóa mức độ tham gia, nghiên cứu đã sử dụng các công cụ đánh giá hiện đại như Biểu đồ SAM (Sustainability Assessment Mapping) và Chỉ số bền vững sinh thái Downjone (EDI). Kết quả phân tích qua 8 chỉ tiêu tổng hợp cho thấy mức độ tham gia của cộng đồng còn ở mức thấp. Ví dụ, ở chỉ tiêu “Hình thức quản lý”, 100% người dân cho biết địa phương “chưa có người quản lý” theo mô hình tự quản thực sự. Về “Thể chế chính sách”, có đến 53,33% cho rằng chính sách còn tồn tại vấn đề và cán bộ quản lý chưa có chế độ phù hợp. Đặc biệt, về “Vốn hỗ trợ”, 91,67% người dân khẳng định “không có hoạt động hỗ trợ giảm thiểu ô nhiễm”. Các con số này cho thấy một khoảng trống lớn giữa kỳ vọng và thực tế trong việc huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý môi trường tại địa phương.

V. Top giải pháp quản lý môi trường cho phát triển bền vững

Dựa trên kết quả nghiên cứu và phân tích thực trạng, việc đề xuất các giải pháp đồng bộ là yếu tố then chốt để cải thiện công tác quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng tại xã Đức Thắng. Các giải pháp này cần tập trung vào ba trụ cột chính: nâng cao nhận thức, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, và xây dựng chính sách khuyến khích. Một chiến lược toàn diện không chỉ giải quyết các vấn đề trước mắt như quản lý rác thải sinh hoạt tại nông thôn hay ô nhiễm môi trường tại Tiên Lữ, mà còn phải tạo ra một nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững tại Hưng Yên. Điều quan trọng là các giải pháp phải xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng của người dân, đồng thời phải có sự cam kết mạnh mẽ từ phía chính quyền địa phương. Việc lồng ghép các hoạt động bảo vệ môi trường vào chương trình xây dựng nông thôn mới, làng văn hóa sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, huy động được sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Chỉ khi vai trò cộng đồng trong bảo vệ môi trường được phát huy tối đa, công tác quản lý mới thực sự đạt được hiệu quả lâu dài.

5.1. Giải pháp nâng cao nhận thức môi trường cho người dân

Giải pháp hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức môi trường cho người dân. Các chương trình cần được tổ chức thường xuyên, với nội dung thiết thực và hình thức đa dạng, đi sâu vào từng hộ gia đình. Thay vì chỉ tuyên truyền chung chung, cần tập trung vào những tác động trực tiếp của ô nhiễm đến sức khỏe và kinh tế của họ. Cần xây dựng các mô hình tự quản môi trường điểm tại các thôn, xóm, kết hợp với các cuộc thi “Gia đình văn hóa - Môi trường xanh”, “Đường làng ngõ xóm sạch đẹp”. Đồng thời, cần có hình thức khen thưởng, biểu dương kịp thời các cá nhân, gia đình làm tốt để tạo hiệu ứng lan tỏa. Việc đưa nội dung giáo dục môi trường vào các buổi sinh hoạt cộng đồng, họp thôn sẽ giúp thông điệp được truyền tải hiệu quả hơn.

5.2. Đề xuất mô hình quản lý tài nguyên nước và xử lý nước thải

Để giải quyết vấn đề ô nhiễm nguồn nước, cần xây dựng một mô hình quản lý tài nguyên nướcxử lý nước thải sinh hoạt hiệu quả. Trước hết, cần quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống cống rãnh, thoát nước ngầm tại các khu dân cư. Đối với nước thải chăn nuôi, cần khuyến khích các hộ gia đình xây dựng hầm biogas để vừa xử lý chất thải, vừa tạo ra năng lượng sạch. Chính quyền cần có chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho các hộ dân thực hiện các giải pháp này. Đồng thời, cần thành lập các tổ cộng đồng tự quản, chịu trách nhiệm giám sát việc xả thải ra kênh mương, sông ngòi. Cần có quy định xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vứt rác, xả thải bừa bãi để tăng tính răn đe. Đây là những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mang tính bền vững.

5.3. Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích cộng đồng

Một trong những rào cản lớn nhất là sự thiếu hụt chính sách. Do đó, cần xây dựng một cơ chế, chính sách môi trường của tỉnh Hưng Yên thực sự hiệu quả để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng. Chính sách này cần đảm bảo nguyên tắc “cân đối giữa chi phí và lợi ích”. Cụ thể, cần có chế độ phụ cấp, trợ cấp hợp lý cho các cán bộ môi trường cấp thôn và các thành viên tích cực trong đội vệ sinh môi trường. Có thể triển khai các mô hình kinh tế tuần hoàn ở quy mô nhỏ, như thu gom, phân loại và bán phế liệu để tạo nguồn quỹ cho hoạt động môi trường của thôn. Ngoài ra, chính quyền cần hỗ trợ một phần kinh phí ban đầu cho các hoạt động thu gom, xử lý rác thải. Việc công nhận và khen thưởng các “Làng văn hóa sức khỏe”, “Thôn xóm xanh” cũng là một hình thức khuyến khích tinh thần hiệu quả.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, các hoạt động nông nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm môi trƣờng có tính chất nghiêm trọng ở khu vực nông thôn nƣớc ta. Nguyên nhân là do tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nƣớc trong vùng lãnh thổ. Môi trƣờng nƣớc ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nƣớc thải, khí thải và chất thải rắn. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải.

Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nƣớc ở sông, hồ, kênh, mƣơng bị ô nhiễm, ảnh hƣởng lớn đến môi trƣờng nƣớc và sức khỏe nhân dân. Do nuôi trồng thủy sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trƣờng nƣớc. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hóa chất trong nuôi trồng thủy sản khiến các thức ăn thừa lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm cho môi trƣờng nƣớc bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thủy triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam. Nhận thức của công dân và cộng đồng đang sống và làm việc tại các khu vực nông thôn về vấn đề môi trƣờng còn chƣa cao.

Ngƣời dân nông thôn chƣa có ý thức BVMT. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất; việc xả nƣớc, rác thải; sử dụng nƣớc không đảm bảo vệ sinh, việc đầu tƣ các công trình phục vụ đời sống và sức khỏe (bể nƣớc, cống rãnh thoát nƣớc, hố xí.), việc tham gia công tác vệ sinh môi trƣờng cộng đồng… còn hạn chế. Đặc biệt, trong hoạt động quản lý, BVMT còn nhiều bất cập. Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ BVMT chƣa đầy đủ, chƣa thấy rõ đƣợc nguy cơ ô nhiễm môi 1 trƣờng khu vực nông thôn sẽ có tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội nông thôn, trong đó có sức khỏe ngƣời dân.

Đội ngũ cán bộ quản lý môi trƣờng còn ít về số lƣợng, bất cập về chất lƣợng. Hiện nay Việt Nam mới chỉ có gần 30 cán bộ quản lý môi trƣờng/1 triệu dân so sánh với một số nƣớc trong khối ASEAN là 70 ngƣời/1 triệu dân. Xã Đức Thắng đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa trong sản xuất kéo theo đó là những tác động không nhỏ đến môi trƣờng nhƣ ô nhiễm nguồn nƣớc, chất thải rắn,. đang ngày càng trở lên nghiêm trọng Nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn liền với hoạt động bảo vệ môi trƣờng nhiều dự án đã đƣợc triển khai.

Tuy nhiên nhiều dự án không đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại là do thiếu sự tham gia của cộng đồng dân cƣ - những ngƣời trực tiếp chịu tác động phản hồi lại của môi trƣờng. Xuất phát từ thực tế đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp quản lý môi trường dựa trên cơ sở cộng đồng tại xã Đức Thắng - Tiên Lữ - Hưng Yên”. 2 C ƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QLMT DỰA TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 1.1 Khái niềm về quản lý môi trƣờng dựa trên cơ sở cộng đồng (CBEM- Community Based Environment Management) Theo Arnstein (1969) các hình thức quản lý khác nhau nằm trong hai hình thức cơ bản là quản lý hành chính nhà nƣớc và quản lý cộng đồng.

Ngoài ra đồng quản lý hay quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng(QLNLDVCĐ) là hình thức quản lý trung gian giữa hai hình thức trên. QLNLDVCĐ là một hình thức hợp tác giữa cộng đồng và nhà chức trách trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm trong quản lý và lợi ích. Theo Đỗ Kim Chi Community - Based Environment Managerment (CBEM) là phƣơng pháp bảo vệ môi trƣờng dựa trên cơ sở vấn đề môi trƣờng cụ thể của từng địa phƣơng thông qua việc tập hợp các cá nhân, tổ chức cần thiết để giải quyết vấn đề đó. Phƣơng pháp này sử dụng các công cụ sẵn có để tập trung cải tạo hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó hay tạo ra lợi ích về môi trƣờng nhƣ tái tạo năng lƣợng, phục hồi lƣu vực.

Và đồng quản lý tài nguyên đó thông qua sự hợp tác giữa các đối tác chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cƣ. Phƣơng pháp quản lý môi trƣờng dựa vào cộng đồng là lấy cộng đồng làm trọng tâm trong việc quản lý môi trƣờng. Đƣa cộng đồng tham gia trực tiếp vào hệ thống quản lý môi trƣờng, họ trực tiếp tham gia vào nhiều công đoạn của quá trình quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện. Đây là hình thức quản lý đi từ dƣới lên, thực hiện theo nguyên vọng, nhu cầu thực tế và ý tƣởng của chính cộng đồng trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò nhƣ một công cụ hỗ trợ, thúc đẩy cho các hoạt động cộng đồng 1.2 Vai trò của ngƣời dân trong quản lý môi trƣờng dựa vào cộng đồng.

Sự tham gia của ngƣời dân địa phƣơng làm cho dự án phù hợp hơn với đặc điểm nhu cầu của địa phƣơng. Thông qua việc tham khảo ý kiến của 3 ngƣời dân, hay ngƣời dân đóng góp ý kiến sẽ cung cấp những thông tin có giá trin cho dự án. Do vậy dễ đƣợc chấp nhận và khả năng bền vững cao hơn. Bởi lẽ họ có kiến thức về địa bàn sinh sống, chính vì vậy họ nắm rõ các đặc thù điều kiện tự nhiên cũng nhƣ vấn đề văn hóa, xã hội ở địa bàn, nắm rõ các nhu cầu cũng nhƣ các phƣơng tiện hiện có của quản lý.

Các quyết định có sự tham gia của cộng đồng sẽ trở nên có cơ sở thực tiễn và đây là căn cứ đảm bảo cho tính khả thi của các quyết định về quản lý môi trƣờng về mặt kinh tế. Ngƣời dân tham gia vào dự án sẽ giúp dự án có thể tiếp tục vẫn hành tốt và có hiệu quả sau khi dự án kết thúc. Bởi vì dự án đem lại lợi ích cho họ và có thể nhân rộng ra nhằm giải quyết vấn đề trên phạm vi rộng hơn. Sự tham gia của ngƣời dân sẽ góp phần điều tiết trong sử dụng nguồn lực đảm bảo tính bền vững trong quản lý môi trƣờng, tài nguyên thiên nhiên đƣợc sử dụng hiệu quả nhất khi biết vận dụng kiến thức của ngƣời dân và huy động đƣợc các nguồn lực tài chính có sẵn trong cộng đồng vào việc làm kinh tế, từ đó tạo cơ hội tăng thu nhập cho ngƣời dân.

Có sự tham gia của cộng đồng sẽ đảm bảo giám sát và đánh giá các chƣơng trình liên quan đến quản lý tổng hợp, duy trì đƣợc các hoạt động thông qua hợp tác trong cộng đồng và thể chế hóa sự tham gia của cộng đồng. Những dự án từ khi bắt đầu đến khi vận hàn thì đều phải gắn với môi trƣờng dân cƣ trong vùng, ngƣời dân trong vùng là ngƣời hiểu rõ nhất những nảy sinh, những hiện tƣợng khi dự án hoạt động. Họ sẽ là ngƣời đƣa ra những đánh giá chugn thực nhất, sát sao nhất về dự án qua đó đánh gia đƣợc thực chất của dự án. Sự tham gia của cộng đồng vào dự án sẽ giải quyết đƣợc vấn đề về nhận thức của ngƣời dân thông qua sự tác động lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng.

Ngƣời dân sống trong cộng đồng nên họ dễ dàng chia sẻ và bảo ban nhau vì vậy khi có ngƣời vi phạm hay đƣợc ngƣợc lại hoạt động của quản lý thì họ là ngƣời tác động đem lại hiệu quả nhất.3 Các nguyên tắc trong quản lý môi trƣờng dựa vào cộng đồng. Nguyên tắc: Xác định danh giới rõ ràng. Nguyên tắc này cho rằng việc tổ chức quản lý dựa vào cộng đồng phải đựa phân bố rõ ràng, cụ thể tới từng đối tƣợng. Xác định đƣợc đối tƣợng cần quản lý từ đó tiếp tục chia nhỏ đối tƣợng quản lý để dễ phân chia công việc.

Phải phân bố rõ ràng từng công việc tới từng đối tƣợng nếu không dễ dẫn tới tình trạng không biết đƣợc mình quản lý những gi hay đối tƣợng thuộc ai quản lý. Tránh tình trạng “Cha chung không ai khóc”. Trong quá trình phân công công việc, phân công trách nhiệm phải chú ý là phân công đƣợc tất cả công việc tới tất cả đối tƣợng tham gia không đƣợc sảy ra tình trạng ngƣời muốn tham gia không đƣợc tham gia hay công việc dồn quá nhiều vào một ngƣời, nhƣ thế dễ sảy ra xung đột trong quản lý. Nguyên tắc :Cân đối giữa chi phí và lợi ích.

Để lôi kéo đƣợc ngƣời dân tham gia vào công việc quản lý môi trƣờng cần có cơ chế tăng thu nhập cho họ. Tức là cần gắn kết giữa mục tiêu quản lý môi trƣờng và thu nhập của ngƣời dân. Ngƣời dân tham gia vào công việc quản lý MT khi họ tìm thấy ở đó lợi ích đem lại cho họ mà ngoài lợi ích gián tiếp là lợi ích trực tiếp thu nhập hàng ngày của họ.Khi ngƣời dân tham gia vào các hoạt động kinh tế mà do các dự án tổ chức thì họ phải thu đƣợc thu nhập từ các hoạt động này để duy trỳ đời sống của mình và gia đình, vì thế mà các dự án ngoài việc đầu tƣ cho các hoạt động phục vụ mục đích chính cần hỗ trợ ngƣời dân ở đó phát triển kinh tế đảm bảo ngƣời dân tham gia là có lợi ích về mặt kinh tế. Nguyên tắc : Được đưa ra, được tiếp thu ý kiến.

Cộng đồng dân cƣ đƣợc phép và đƣợc khuyến khích đƣa ra ý kiến của mình trong các cuộc thảo luận. Họ đƣợc đƣa ra nhứng đánh giá về hoạt động của hệ thống quản lý. Ngƣời dân địa phƣơng thông quá việc đóng góp những ý kiến sẽ cung cấp cho cơ quản quản lý cao hơn những thông tin, những phản hồi từ phía họ. Những vấn đề mà ngƣời dân có thể gặp phải khi hệ thống đi 5 vào vận hành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ