Khóa luận quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Nghiên cứu chuyên sâu Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế tại bệnh với phương pháp khoa học, ứng dụng thực tiễn hiệu quả

Chuyên ngành

Quản lý chất thải rắn y tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

78
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU

1. Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về chất thải y tế

1.1.1. Định nghĩa, phân loại chất thải rắn y tế

1.1.2. Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế

1.1.3. Thành phần chất thải rắn y tế

1.1.4. Tác động của chất thải bệnh viện tới môi trường

1.2. Tổng quan về quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam

1.3. Quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

2. Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phạm vi nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu

2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp

2.4.3. Phương pháp xử lý nội nghiệp

2.4.4. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

3. Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

3.1.1. Giới thiệu chung về bệnh viện Đa khoa Thị xã Đông Triều

3.1.2. Chức năng, nhiệm vụ bệnh viện

3.1.3. Quy mô hoạt động của bệnh viện

3.2. Hiện trạng đặc điểm và công tác quản lý rác thải y tế tại bệnh viện Đa khoa Đông Triều

3.2.1. Đặc điểm nguồn phát sinh rác thải bệnh viện

3.2.2. Thành phần và khối lượng rác thải bệnh viện

3.2.3. Hiện trạng và dự báo xu hướng phát sinh rác thải

3.2.4. Mức độ hiểu biết của nhân viên bệnh viện về cơ chế quản lý CTRYT của bệnh viện

3.3. Hoạt động quản lý và xử lý rác thải y tế bệnh viện Đông Triều

3.3.1. Hệ thống quản lý rác thải y tế tại bệnh viện

3.3.2. Quá trình phân loại, thu gom chất thải rắn y tế nguy hại của bệnh viện Đông Triều

3.3.3. Quá trình vận chuyển, lưu trữ chất thải rắn y tế nguy hại của bệnh viện Đông Triều

3.3.4. Hoạt động xử lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Đông Triều

3.4. Đánh giá ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường xung quanh khu vực nghiên cứu

3.4.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường nước

3.4.2. Ảnh hưởng của hoạt động xử chất thải rắn y tế đến môi trường không khí

3.5. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đông Triều

3.5.1. Giải pháp quy hoạch

3.5.2. Giải pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức môi trường

3.5.3. Giải pháp quản lý

4. Chương 4: KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế BV Đa khoa Đông Triều

Quản lý chất thải rắn y tế là một nhiệm vụ trọng tâm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và môi trường. Tại Bệnh viện Đa khoa Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, công tác này đã có những nền tảng ban đầu nhưng vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Nghiên cứu của Trần Thị Sáng (2015) cung cấp một cái nhìn chi tiết về khối lượng, thành phần và quy trình xử lý tại bệnh viện, làm cơ sở để đánh giá và đề xuất các giải pháp cải tiến. Trung bình mỗi năm, bệnh viện thải ra khoảng 4.400 kg rác thải y tế, trong đó chất thải y tế nguy hại chiếm từ 5-10%. Lượng rác thải này có xu hướng tăng tỷ lệ thuận với số lượng giường bệnh và nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Việc hiểu rõ thực trạng là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng một hệ thống quản lý môi trường bệnh viện hiệu quả, tuân thủ các quy định về quản lý chất thải y tế hiện hành, đặc biệt là Thông tư 20/2021/TT-BYT.

1.1. Hiện trạng phát sinh và thành phần rác thải y tế

Theo số liệu khảo sát, Bệnh viện Đa khoa Đông Triều phát sinh một lượng lớn chất thải rắn hàng ngày. Cụ thể, tổng khối lượng rác thải trung bình là 249,55 kg/ngày, trong đó chất thải lây nhiễm là 13,2 kg, chất thải tái chế 1,35 kg và chất thải sinh hoạt chiếm đến 235 kg. Nguồn phát sinh chủ yếu đến từ hoạt động chuyên môn (khám, điều trị, phẫu thuật) và hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người nhà và nhân viên y tế. Các khoa có lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh cao nhất bao gồm Khoa Phẫu thuật – Gây mê – Hồi sức cấp cứu (4,0 kg/ngày), Khoa Phụ sản (3,25 kg/ngày) và Khoa Nội tổng hợp (2,25 kg/ngày). Sự gia tăng liên tục của lượng rác thải, đặc biệt là rác thải nhựa dùng một lần, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các biện pháp giảm thiểu chất thải y tế ngay từ khâu mua sắm vật tư.

1.2. Đánh giá hệ thống quản lý và nhận thức của nhân viên y tế

Bệnh viện đã xây dựng một mô hình quản lý chất thải bệnh viện với sự phân công trách nhiệm rõ ràng từ Giám đốc đến các khoa, phòng và nhân viên hộ lý, đặc biệt là vai trò giám sát của Khoa Chống nhiễm khuẩn. Kết quả phỏng vấn cho thấy 100% cán bộ, nhân viên y tế và 80% nhân viên thu gom đã được hướng dẫn về quy chế quản lý. Tuy nhiên, nhận thức và thực hành vẫn còn khoảng cách. Việc tuân thủ quy trình còn những hạn chế, đòi hỏi các chương trình đào tạo và giám sát cần được tăng cường. Đảm bảo an toàn lao động trong quản lý chất thải và ngăn ngừa lây nhiễm chéo từ chất thải phải là ưu tiên hàng đầu trong các chương trình huấn luyện này.

II. Thách thức trong quy trình quản lý rác thải y tế tại Bệnh viện

Mặc dù đã có những nỗ lực đáng kể, công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Đông Triều vẫn tồn tại nhiều bất cập nghiêm trọng. Những thách thức này không chỉ nằm ở khâu xử lý cuối cùng mà còn hiện hữu trong toàn bộ quy trình xử lý chất thải rắn y tế, từ phân loại, thu gom đến lưu trữ. Nghiên cứu chỉ ra rằng cơ sở vật chất xuống cấp, quy trình chưa được tối ưu hóa và việc giám sát chưa chặt chẽ là những nguyên nhân chính gây ra rủi ro ô nhiễm môi trường do rác thải y tế. Các vấn đề như thiếu dụng cụ, nhà lưu giữ không đảm bảo tiêu chuẩn, khung giờ thu gom chưa hợp lý đang trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chung và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên y tế, bệnh nhân và cộng đồng xung quanh. Việc giải quyết triệt để các thách thức này là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng quản lý.

2.1. Bất cập trong phân loại rác thải tại nguồn và thu gom

Công tác phân loại rác thải tại nguồn dù đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao. Khảo sát cho thấy 100% các khoa chưa thực hiện đúng việc thu gom chất thải tái chế theo biểu tượng quy định. Tỷ lệ phân loại sai đối với chất thải hóa học lên tới 76,9% và chất thải lây nhiễm là 30,8%. Tình trạng này không chỉ làm tăng khối lượng chất thải y tế nguy hại cần xử lý, gây lãng phí và tăng chi phí xử lý rác thải bệnh viện, mà còn gây khó khăn cho các công đoạn sau. Thêm vào đó, bệnh viện còn thiếu các dụng cụ thu gom đồng bộ, đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế, ảnh hưởng đến quá trình thu gom chất thải y tế an toàn và hiệu quả.

2.2. Hạn chế về lưu trữ và vận chuyển rác thải y tế

Hệ thống lưu trữ và vận chuyển rác thải y tế tại bệnh viện bộc lộ nhiều điểm yếu. Nhà lưu giữ chất thải y tế đã xuống cấp, diện tích kho chứa chất thải tái chế quá nhỏ hẹp. Đặc biệt, khu vực chứa chất thải sinh hoạt không có mái che và tường bao, đặt quá gần khu vực tập trung đông người, vi phạm quy định về khoảng cách an toàn. Nghiêm trọng hơn, việc tiêu hủy chất thải y tế nguy hại chỉ thực hiện 3 ngày/tuần (thứ 2, 4, 6) dẫn đến tình trạng chất thải bị lưu trữ quá 48 giờ vào cuối tuần. Điều này vi phạm Quyết định 43/2007/BYT (nay là Thông tư 20/2021/TT-BYT) và làm tăng nguy cơ phát tán mầm bệnh, gây ô nhiễm môi trường.

III. Phương pháp tối ưu hóa quy trình quản lý chất thải rắn y tế

Để giải quyết các tồn tại, việc đề xuất và áp dụng các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế là vô cùng cần thiết. Các giải pháp này cần tập trung vào việc hoàn thiện quy trình từ gốc, nâng cấp cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ hiện đại. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một hệ thống quản lý khép kín, an toàn, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường tại cơ sở y tế. Việc cải tiến quy trình xử lý chất thải rắn y tế không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro lây nhiễm mà còn tối ưu hóa chi phí vận hành, góp phần vào sự phát triển bền vững của bệnh viện. Các giải pháp cần được triển khai một cách có hệ thống, bắt đầu từ quy hoạch cơ sở hạ tầng đến việc lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp.

3.1. Giải pháp quy hoạch lại khu vực lưu trữ và thu gom

Trước hết, cần quy hoạch và đầu tư xây dựng mới khu vực lưu giữ chất thải. Nhà chứa chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường cần được xây dựng riêng biệt, đúng tiêu chuẩn kỹ thuật: có mái che, tường bao, sàn chống thấm, hệ thống thoát nước và thông khí tốt. Cần đảm bảo khoảng cách an toàn tối thiểu đến nhà ăn, buồng bệnh và khu vực công cộng. Bệnh viện nên đầu tư bổ sung các thùng chứa, túi nilon đúng màu sắc, biểu tượng và xe chuyên dụng để thu gom chất thải y tế và vận chuyển theo một lộ trình riêng biệt, tránh các khu vực đông người. Khung giờ thu gom cần được điều chỉnh hợp lý, đảm bảo chất thải được vận chuyển ít nhất 2 lần/ngày, không để tồn đọng qua đêm.

3.2. Cải tiến phương pháp và công nghệ xử lý rác thải y tế

Hệ thống lò đốt Chuwastar hiện tại của bệnh viện đã cũ và có nguy cơ phát sinh khí thải độc hại như dioxin. Định hướng tương lai là từng bước thay thế bằng các công nghệ xử lý rác thải y tế thân thiện với môi trường hơn. Các công nghệ như hấp ướt (autoclave) hoặc vi sóng là những lựa chọn thay thế hiệu quả, giúp khử khuẩn triệt để chất thải lây nhiễm và biến chúng thành chất thải thông thường trước khi chôn lấp. Đối với các loại rác thải y tế đặc thù như hóa chất, dược phẩm quá hạn, bệnh viện cần ký hợp đồng với các đơn vị có chức năng xử lý theo đúng quy định về quản lý chất thải y tế, thay vì đốt chung tại lò đốt của bệnh viện.

IV. Bí quyết nâng cao năng lực quản lý và giám sát nội bộ hiệu quả

Bên cạnh các giải pháp về kỹ thuật và cơ sở hạ tầng, yếu tố con người và hệ thống quản lý đóng vai trò quyết định đến sự thành công của công tác quản lý chất thải. Một quy trình dù hoàn hảo đến đâu cũng sẽ thất bại nếu không có sự tuân thủ nghiêm túc của nhân viên và một cơ chế giám sát chặt chẽ. Do đó, việc xây dựng một mô hình quản lý chất thải bệnh viện tích hợp, kết hợp với các chương trình đào tạo liên tục và cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả là giải pháp mang tính bền vững. Nâng cao nhận thức không chỉ giúp nhân viên thực hiện đúng quy trình mà còn thúc đẩy họ chủ động tham gia vào các hoạt động giảm thiểu chất thải y tế, góp phần xây dựng một bệnh viện xanh - sạch - đẹp và an toàn.

4.1. Tăng cường đào tạo nâng cao nhận thức và an toàn lao động

Bệnh viện cần tổ chức các buổi tập huấn, đào tạo định kỳ và đột xuất cho toàn bộ nhân viên, đặc biệt là nhân viên mới và đội ngũ hộ lý, nhân viên thu gom. Nội dung đào tạo phải tập trung vào các quy định mới nhất của Thông tư 20/2021/TT-BYT, kỹ năng phân loại rác thải tại nguồn chính xác, và các biện pháp đảm bảo an toàn lao động trong quản lý chất thải. Cần trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ cá nhân (găng tay, khẩu trang, quần áo bảo hộ) và có quy trình xử lý sự cố rò rỉ, đâm phải vật sắc nhọn. Việc xây dựng văn hóa an toàn và ý thức bảo vệ môi trường trong toàn bệnh viện là nền tảng cho mọi nỗ lực cải tiến.

4.2. Hoàn thiện cơ chế giám sát và xây dựng quy trình chuẩn

Cần thành lập một đội hoặc tổ giám sát chuyên trách, trực thuộc Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, có nhiệm vụ kiểm tra định kỳ và đột xuất việc thực hiện quy trình tại tất cả các khoa, phòng. Xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá rõ ràng và áp dụng các hình thức khen thưởng, kỷ luật kịp thời. Bệnh viện nên số hóa quy trình theo dõi, sử dụng sổ giao nhận điện tử hoặc mã vạch để quản lý luồng chất thải y tế nguy hại từ nơi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng. Việc này không chỉ giúp tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm mà còn cung cấp dữ liệu chính xác để tính toán chi phí xử lý rác thải bệnh viện và lập kế hoạch cải tiến trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa đông triều tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng đang trở nên ngày càng nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của con ngƣời. Do vậy mà công tác bảo vệ môi trƣờng, phát triển bền vững luôn là một trong những vấn đề đang đƣợc thế giới quan tâm hàng đầu. Nền kinh tế ngày càng phát triển, chất lƣợng cuộc sống dần đƣợc nâng cao, sức khỏe con ngƣời đƣợc chú trọng hơn, dẫn đến nhu cầu khám và chữa bệnh gia tăng. Điều này đồng nghĩa sẽ phát sinh một lƣợng chất thải y tế làm cho bệnh viện trở thành một trong những nguồn gây nguy hại cho môi trƣờng và cộng đồng xung quanh.

Tính đến năm 2010, cảnƣớc có khoảng 1200 bệnh viện. Trung bình các bệnh viện trong cả nƣớc phát thải 252 tấn/ngày chất thải y tế, trong đó có 12%- 25% là chất thải y tế nguy hại cần phải xử lý đặc biệt [2]. Một vấn đề nữa là công tác quản lý và xử lý chất thải y tế của các bệnh viện còn kém hiệu quả, chƣa có biện pháp quản lý chất thải y tế hữu hiệu và an toàn. Biện pháp xử lý chất thải của các bệnh viện chủ yếu vẫn là chôn lấp, trong đó 29% bệnh viện chôn rác ngay tại khuôn viên, chỉ có 18,7% xử lý bằng phƣơng pháp đốt, số còn lại chủ yếu vận chuyển rác thải tới bãi rác công cộng để xử lý.

Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế nhƣng quá cũ, hoặc đốt lộ thiên, sử dụng củi và dầu để đốt gây ô nhiễm môi trƣờng. Ngoài lƣợng chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn còn một lƣợng lớn từ các hoạt động sinh hoạtcủa ngƣời nhà bệnh nhân và các hoạt động dịch vụ khác trong bệnh viện làm tăng tổng lƣợng chất thải y tế phát sinh. Chính vì vậy, hệ thống xử lý rác thải y tế của các bệnh viện luôn bị quá tải, chất lƣợng và hiệu quả xử lý rác thải cũng bị hạn chế rất nhiều [5]. Thực trạng trên đã đƣợc cải thiện và thu đƣợc nhiều kết quả khả quan bƣớc đầu từ sau khi có các biện pháp tích cực về quản lý, đầu tƣ và chế tài trong lĩnh vực quản lý chất thải y tế.

Quy chế “Quản lý chất thải y tế” đã đƣợc Bộ Y tế 1 ban hành năm 1999 và đã đƣợc điều chỉnh lại năm 2007 theo Quyết định 43/QĐ-BYT. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bệnh viện cấp trung ƣơng cũng nhƣ địa phƣơng hiện chƣa đƣợc đầu tƣ giải quyết vấn đề chất thải y tế, do vậy chất thải y tế vẫn là thách thức. Nhu cầu bức xúc này đã đƣợc chỉ rõ trong quyết định 64/2003/QĐ- TTg với trên 84 bệnh viện hiện đang là nguồn ô nhiễm nghiêm trọng cần xử lý triệt để. Hàng năm Chính phủ vẫn phải dành ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trƣờng trong đó xử lý ô nhiễm từ nƣớc thải bệnh viện.

Tính tới năm 2011, chỉ mới vài bệnh viện đƣợc rút ra khỏi danh sách là cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng. Bệnh viện đa khoa Đông triều là bệnh viện tuyến huyện, là trung tâm khám, điều trị của nhân dân thị xã Đông Triều cũng nhƣ với những ngƣời dân thông thƣơng qua đây. Quy mô bệnh viện là 300 giƣờng bệnh, với đủ các khoa/phòng. Số lƣợng bệnh nhân khám và điều trị bệnh trung bình 300-400 ca mỗi ngày.

Tỷ lệ sử dụng giừờng bệnh thƣờng xuyên vƣợt trên 100%. Bệnh viện nằm ở trung tâm của thị xã, là nơi tập trung đông dân cƣ cho nên những thiếu sót trong quản lý và xử lý chất thải y tế sẽ ảnh hƣởng rất lớn tới cộng đồng dân cƣ lân cận. Để nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cũng nhƣ công tác quản lý chất thải y tế, việc phát hiện những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện, nâng cao hiểu biết và ý thức cũng nhƣ chất lƣợng điều trị, nâng cao chất lƣợng quản lý rác thải y tế tại bệnh viện nói riêng và tại các phòng khám tƣ nhân, các trung tâm y tế nói chung hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản lý chất thải hiện nay của thị xã là rất cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu đó, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn em xin đƣa ra đề tài khóa luận với tên "Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa Khoa Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh".

2 Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thảiy tế 1. Định nghĩa, phân loại chất thải rắn y tế Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo. Chất thải y tế có thể tồn tại ở dạng rắn, lỏng hay khí.

Chất thải y tế nguy hại: là chất thải có một trong các thành phần nhƣ: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của ngƣời, động vật; bơm, kim tiêm và các vật sắc nhọn khác; dƣợc phẩm; hóa chất và các chất phóng xạ dung trong y tế. Nếu những chất thải này không đƣợc tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời[1]. Phân loại chất thải y tế: Hầu hết các chất thải rắn từ quá trình khám chữa bệnh là các chất thải độc hại và mang tính đặc thù riêng. Các chất thải này phải đƣợc phân loại cẩn thận trƣớc khi thải chung với các loại rác thải sinh hoạt, nếu không sẽ gây ra những nguy hại tới cộng đồng, nhƣ gây bệnh, hay làm lây lan dịch bệnh…Vì vậy phân loại chất thải là một khâu rất quan trọng.

Nếu việc phân loại chất thải đƣợc tiến hành tốt ngay từ đầu thì những khâu quản lý và xử lý sau này sẽ đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa sự ô nhiễm đối với môi trƣờng xung quanh. Ở Việt Nam, theo Quyết định 43/2007 của Bộ Y tếchất thải trong các cơ sở y tế đƣợc phân thành 5 loại sau [1]: + Chất thải lâm sàng (gồm 5 nhóm: A, B, C, D, E). + Chất thải phóng xạ. + Chất thải hóa học.

+ Các bình chứa khí có áp suất. + Chất thải sinh hoạt. Chất thải lâm sàng Nhóm A: Là chất thải nhiễm khuẩn bao gồm vật liệu bị thấm máu, thấm dịch; các chất bài tiết của ngƣời bệnh nhƣ băng, gạc, bông, găng tay, bột bó 3 trong gãy xƣơng, đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng dịch dẫn lƣu… Nhóm B: Là các vật sắc nhọn bao gồm bơm tiêm, kim tiêm, lƣỡi và cán dao mổ đinh mổ, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không bị nhiễm khuẩn. Nhóm C: Là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm bao gồm găng tay; lam kính; ống nghiệm; bệnh phẩm sau khi sinh khiết, xét nghiệm nuôi cấy; túi đựng máu.

Nhóm D: Là chất thải dƣợc phẩm, bao gồm: - Dƣợc phẩm quá hạn. - Dƣợc phẩm bị nhiễm khuẩn. - Dƣợc phẩm bị đổ. - Dƣợc phẩm không còn nhu cầu sử dụng.

- Thuốc gây độc tế bào. Nhóm E: Là các mô và cơ quan ngƣời, động vật bao gồm tất cả các mô của cơ thể (dù bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn); các cơ quan, chân tay, rau thai, bào thai, xác động vật thí nghiệm.Chất thải phóng xạ. - Chất thải phóng xạ rắn gồm:Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị nhƣ ống tiêm, bơm tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ… - Chất thải phóng xạ lỏng gồm: Dung dịch có chứa nhân phóng xạ, phát sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị nhƣ nƣớc tiểu của ngƣời bệnh, các chất bài tiết, nƣớc xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ… - Chất thải phóng xạ khí gồm: Các chất khí dùng trong lâm sàng nhƣ các 133 khí Xe ; các khí thoát ra từ các kho chứa chứa chất phóng xạ… c. Chất thải hóa học Chất thải hóa học gồm hai loại: 4 - Chất thải hóa học không nguy hại nhƣ đƣờng, axít béo, một số muối vô cơ và hữu cơ.

- Chất thải hóa học nguy hại, bao gồm: + Fomal dehyde + Các hóa chất quang hóa học. + Các hợp chất hóa học hỗn hợp.Các bình chứa khí có áp suất Bao gồm các bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần. Các bình này dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom, xử lý riêng. Chất thải sinh hoạt Chất thải này không bị nhiễm các yêú tố nguy hại, phát sinh từ buồng bệnh, phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà ăn… Ngoài ra còn có lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.

Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác nhƣ trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu. Hầu hết các CTRYT đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dƣợc (Bảng 1.1: Nguồn phát sinh CTRYT. Loại CTR Nguồn tạo thành Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các CTRSH loại bao gói… Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của ngƣời Chất thải chứa các vi sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét trùng gây bệnh nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân.

Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, Chất thải bị nhiễm bẩn các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà. Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng Chất thải đặc biệt xạ, hóa chất dƣợc. từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dƣợc… Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia (2011). Chất thải rắn bệnh viện có thành phần rất đa dạng bao gồm cả rác sinh hoạt và đặc biệt là chất thải trong quá trình điều trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ