LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng đang trở nên ngày càng nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của con ngƣời. Do vậy mà công tác bảo vệ môi trƣờng, phát triển bền vững luôn là một trong những vấn đề đang đƣợc thế giới quan tâm hàng đầu. Nền kinh tế ngày càng phát triển, chất lƣợng cuộc sống dần đƣợc nâng cao, sức khỏe con ngƣời đƣợc chú trọng hơn, dẫn đến nhu cầu khám và chữa bệnh gia tăng. Điều này đồng nghĩa sẽ phát sinh một lƣợng chất thải y tế làm cho bệnh viện trở thành một trong những nguồn gây nguy hại cho môi trƣờng và cộng đồng xung quanh.
Tính đến năm 2010, cảnƣớc có khoảng 1200 bệnh viện. Trung bình các bệnh viện trong cả nƣớc phát thải 252 tấn/ngày chất thải y tế, trong đó có 12%- 25% là chất thải y tế nguy hại cần phải xử lý đặc biệt [2]. Một vấn đề nữa là công tác quản lý và xử lý chất thải y tế của các bệnh viện còn kém hiệu quả, chƣa có biện pháp quản lý chất thải y tế hữu hiệu và an toàn. Biện pháp xử lý chất thải của các bệnh viện chủ yếu vẫn là chôn lấp, trong đó 29% bệnh viện chôn rác ngay tại khuôn viên, chỉ có 18,7% xử lý bằng phƣơng pháp đốt, số còn lại chủ yếu vận chuyển rác thải tới bãi rác công cộng để xử lý.
Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế nhƣng quá cũ, hoặc đốt lộ thiên, sử dụng củi và dầu để đốt gây ô nhiễm môi trƣờng. Ngoài lƣợng chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn còn một lƣợng lớn từ các hoạt động sinh hoạtcủa ngƣời nhà bệnh nhân và các hoạt động dịch vụ khác trong bệnh viện làm tăng tổng lƣợng chất thải y tế phát sinh. Chính vì vậy, hệ thống xử lý rác thải y tế của các bệnh viện luôn bị quá tải, chất lƣợng và hiệu quả xử lý rác thải cũng bị hạn chế rất nhiều [5]. Thực trạng trên đã đƣợc cải thiện và thu đƣợc nhiều kết quả khả quan bƣớc đầu từ sau khi có các biện pháp tích cực về quản lý, đầu tƣ và chế tài trong lĩnh vực quản lý chất thải y tế.
Quy chế “Quản lý chất thải y tế” đã đƣợc Bộ Y tế 1 ban hành năm 1999 và đã đƣợc điều chỉnh lại năm 2007 theo Quyết định 43/QĐ-BYT. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bệnh viện cấp trung ƣơng cũng nhƣ địa phƣơng hiện chƣa đƣợc đầu tƣ giải quyết vấn đề chất thải y tế, do vậy chất thải y tế vẫn là thách thức. Nhu cầu bức xúc này đã đƣợc chỉ rõ trong quyết định 64/2003/QĐ- TTg với trên 84 bệnh viện hiện đang là nguồn ô nhiễm nghiêm trọng cần xử lý triệt để. Hàng năm Chính phủ vẫn phải dành ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trƣờng trong đó xử lý ô nhiễm từ nƣớc thải bệnh viện.
Tính tới năm 2011, chỉ mới vài bệnh viện đƣợc rút ra khỏi danh sách là cơ sở y tế gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng. Bệnh viện đa khoa Đông triều là bệnh viện tuyến huyện, là trung tâm khám, điều trị của nhân dân thị xã Đông Triều cũng nhƣ với những ngƣời dân thông thƣơng qua đây. Quy mô bệnh viện là 300 giƣờng bệnh, với đủ các khoa/phòng. Số lƣợng bệnh nhân khám và điều trị bệnh trung bình 300-400 ca mỗi ngày.
Tỷ lệ sử dụng giừờng bệnh thƣờng xuyên vƣợt trên 100%. Bệnh viện nằm ở trung tâm của thị xã, là nơi tập trung đông dân cƣ cho nên những thiếu sót trong quản lý và xử lý chất thải y tế sẽ ảnh hƣởng rất lớn tới cộng đồng dân cƣ lân cận. Để nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh cũng nhƣ công tác quản lý chất thải y tế, việc phát hiện những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện, nâng cao hiểu biết và ý thức cũng nhƣ chất lƣợng điều trị, nâng cao chất lƣợng quản lý rác thải y tế tại bệnh viện nói riêng và tại các phòng khám tƣ nhân, các trung tâm y tế nói chung hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản lý chất thải hiện nay của thị xã là rất cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu đó, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn em xin đƣa ra đề tài khóa luận với tên "Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa Khoa Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh".
2 Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về chất thảiy tế 1. Định nghĩa, phân loại chất thải rắn y tế Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo. Chất thải y tế có thể tồn tại ở dạng rắn, lỏng hay khí.
Chất thải y tế nguy hại: là chất thải có một trong các thành phần nhƣ: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của ngƣời, động vật; bơm, kim tiêm và các vật sắc nhọn khác; dƣợc phẩm; hóa chất và các chất phóng xạ dung trong y tế. Nếu những chất thải này không đƣợc tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời[1]. Phân loại chất thải y tế: Hầu hết các chất thải rắn từ quá trình khám chữa bệnh là các chất thải độc hại và mang tính đặc thù riêng. Các chất thải này phải đƣợc phân loại cẩn thận trƣớc khi thải chung với các loại rác thải sinh hoạt, nếu không sẽ gây ra những nguy hại tới cộng đồng, nhƣ gây bệnh, hay làm lây lan dịch bệnh…Vì vậy phân loại chất thải là một khâu rất quan trọng.
Nếu việc phân loại chất thải đƣợc tiến hành tốt ngay từ đầu thì những khâu quản lý và xử lý sau này sẽ đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa sự ô nhiễm đối với môi trƣờng xung quanh. Ở Việt Nam, theo Quyết định 43/2007 của Bộ Y tếchất thải trong các cơ sở y tế đƣợc phân thành 5 loại sau [1]: + Chất thải lâm sàng (gồm 5 nhóm: A, B, C, D, E). + Chất thải phóng xạ. + Chất thải hóa học.
+ Các bình chứa khí có áp suất. + Chất thải sinh hoạt. Chất thải lâm sàng Nhóm A: Là chất thải nhiễm khuẩn bao gồm vật liệu bị thấm máu, thấm dịch; các chất bài tiết của ngƣời bệnh nhƣ băng, gạc, bông, găng tay, bột bó 3 trong gãy xƣơng, đồ vải, các túi hậu môn nhân tạo, dây truyền máu, các ống thông, dây và túi đựng dịch dẫn lƣu… Nhóm B: Là các vật sắc nhọn bao gồm bơm tiêm, kim tiêm, lƣỡi và cán dao mổ đinh mổ, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra vết cắt hoặc chọc thủng, cho dù chúng có thể bị nhiễm khuẩn hoặc không bị nhiễm khuẩn. Nhóm C: Là chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét nghiệm bao gồm găng tay; lam kính; ống nghiệm; bệnh phẩm sau khi sinh khiết, xét nghiệm nuôi cấy; túi đựng máu.
Nhóm D: Là chất thải dƣợc phẩm, bao gồm: - Dƣợc phẩm quá hạn. - Dƣợc phẩm bị nhiễm khuẩn. - Dƣợc phẩm bị đổ. - Dƣợc phẩm không còn nhu cầu sử dụng.
- Thuốc gây độc tế bào. Nhóm E: Là các mô và cơ quan ngƣời, động vật bao gồm tất cả các mô của cơ thể (dù bị nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn); các cơ quan, chân tay, rau thai, bào thai, xác động vật thí nghiệm.Chất thải phóng xạ. - Chất thải phóng xạ rắn gồm:Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị nhƣ ống tiêm, bơm tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ… - Chất thải phóng xạ lỏng gồm: Dung dịch có chứa nhân phóng xạ, phát sinh trong quá trình chẩn đoán, điều trị nhƣ nƣớc tiểu của ngƣời bệnh, các chất bài tiết, nƣớc xúc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ… - Chất thải phóng xạ khí gồm: Các chất khí dùng trong lâm sàng nhƣ các 133 khí Xe ; các khí thoát ra từ các kho chứa chứa chất phóng xạ… c. Chất thải hóa học Chất thải hóa học gồm hai loại: 4 - Chất thải hóa học không nguy hại nhƣ đƣờng, axít béo, một số muối vô cơ và hữu cơ.
- Chất thải hóa học nguy hại, bao gồm: + Fomal dehyde + Các hóa chất quang hóa học. + Các hợp chất hóa học hỗn hợp.Các bình chứa khí có áp suất Bao gồm các bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần. Các bình này dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom, xử lý riêng. Chất thải sinh hoạt Chất thải này không bị nhiễm các yêú tố nguy hại, phát sinh từ buồng bệnh, phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà ăn… Ngoài ra còn có lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác nhƣ trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu. Hầu hết các CTRYT đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dƣợc (Bảng 1.1: Nguồn phát sinh CTRYT. Loại CTR Nguồn tạo thành Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các CTRSH loại bao gói… Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của ngƣời Chất thải chứa các vi sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quá trình xét trùng gây bệnh nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân.
Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, Chất thải bị nhiễm bẩn các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà. Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng Chất thải đặc biệt xạ, hóa chất dƣợc. từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dƣợc… Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia (2011). Chất thải rắn bệnh viện có thành phần rất đa dạng bao gồm cả rác sinh hoạt và đặc biệt là chất thải trong quá trình điều trị.