Luận án tiến sĩ về uyển ngữ trong tiếng Anh và chuyển dịch sang tiếng Việt

Luận án tiến sĩ phân tích uyển ngữ trong tiếng Anh và phương pháp chuyển dịch sang tiếng Việt, góp phần nâng cao hiểu biết ngôn ngữ học.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý Luận Ngôn Ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2003

222
8
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ UYÊN NGỮ

1.1. TỔNG QUAN CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ UYÊN NGỮ

1.2. XÁC LẬP ĐỊNH NGHĨA CỦA KHÁI NIỆM "UYÊN NGỮ"

2. CHƯƠNG 2: CẤU TẠO VÀ NGHĨA CỦA UYÊN NGỮ TIẾNG ANH

2.1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ HÌNH THÁI CẤU TẠO VÀ NGHĨA

2.2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ CẤU TẠO VÀ NGHĨA: PHƯƠNG TIỆN TỪ - NGỮ ÂM, HÌNH THÁI TỪ, PHONG CÁCH, CÚ PHÁP

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ VIỆC SỬ DỤNG UYÊN NGỮ TRONG TIẾNG ANH

3.1. UYÊN NGỮ SỬ DỤNG TRONG PHONG CÁCH HÀNH CHÍNH

3.2. UYÊN NGỮ SỬ DỤNG TRONG PHONG CÁCH SINH HOẠT HÀNG NGÀY

3.3. UYÊN NGỮ SỬ DỤNG TRONG PHONG CÁCH BÁO CHÍ

3.4. NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT CỦA UYÊN NGỮ

3.5. CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA UYÊN NGỮ TIẾNG ANH THỂ HIỆN QUA TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP HẰNG NGÀY

4. CHƯƠNG 4: VIỆC CHUYỂN DỊCH UYÊN NGỮ TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG KHÁC

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ XUẤT XỨ CÁC VÍ DỤ

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận chung về uyển ngữ

Nghiên cứu về uyển ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học. Uyển ngữ được định nghĩa là sự thay thế một từ hoặc cụm từ khó nghe bằng một từ hoặc cụm từ nhẹ nhàng hơn. Điều này không chỉ phản ánh sự nhạy cảm trong giao tiếp mà còn thể hiện văn hóa và tâm lý xã hội của người sử dụng. Các tài liệu nghiên cứu về uyển ngữ đã chỉ ra rằng, trong tiếng Anh, uyển ngữ có nguồn gốc từ ngôn ngữ tòa án của giai cấp quý tộc, và đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như y tế, chính trị và xã hội. Việc nghiên cứu uyển ngữ không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn giúp người học tiếng Anh nhận thức được các khía cạnh văn hóa của người bản ngữ.

1.1. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về uyển ngữ

Nhiều tác phẩm đã được xuất bản về uyển ngữ tiếng Anh, trong đó có cuốn "Euphemism and Dysphemism" của Keith Allan và Kate Burridge, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và cách sử dụng uyển ngữ. Các từ điển như "Oxford Dictionary of Euphemisms" cũng đã miêu tả chi tiết về nguồn gốc và cách sử dụng uyển ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu về uyển ngữ trong tiếng Việt vẫn còn hạn chế, chưa có nhiều công trình nghiên cứu đối chiếu giữa hai ngôn ngữ này. Điều này mở ra cơ hội cho các nghiên cứu sâu hơn về sự khác biệt và tương đồng trong việc sử dụng uyển ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt.

II. Cấu tạo và nghĩa của uyển ngữ tiếng Anh

Cấu tạo của uyển ngữ trong tiếng Anh thường bao gồm các yếu tố ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng. Uyển ngữ có thể được phân loại theo nhiều cách, từ việc thay thế từ ngữ đến việc sử dụng các cấu trúc ngữ pháp khác nhau để tạo ra sự tế nhị trong giao tiếp. Ví dụ, thay vì nói 'chết', người ta có thể sử dụng 'ra đi' hoặc 'không còn nữa'. Điều này không chỉ giúp giảm bớt sự khó chịu mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với người nghe. Việc phân tích cấu trúc và ngữ nghĩa của uyển ngữ giúp người học hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể.

2.1. Đặc điểm về hình thái cấu tạo và nghĩa

Các uyển ngữ thường có hình thức ngữ nghĩa phong phú, phản ánh sự đa dạng trong cách diễn đạt. Chúng có thể được hình thành từ các từ đơn, cụm từ hoặc thậm chí là câu hoàn chỉnh. Sự thay thế từ ngữ trong uyển ngữ không chỉ đơn thuần là việc chọn từ mà còn liên quan đến cách thức mà người nói muốn truyền đạt thông điệp của mình một cách tế nhị. Việc nghiên cứu các đặc điểm này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn giúp người học tiếng Anh phát triển kỹ năng giao tiếp hiệu quả hơn.

III. Cách dùng uyển ngữ trong tiếng Anh

Việc sử dụng uyển ngữ trong tiếng Anh rất phong phú và đa dạng, tùy thuộc vào ngữ cảnh và mục đích giao tiếp. Trong các tình huống giao tiếp hàng ngày, uyển ngữ thường được sử dụng để giảm bớt sự khó chịu hoặc để thể hiện sự tôn trọng. Ví dụ, trong giao tiếp chính thức, người ta thường sử dụng uyển ngữ để tránh gây ra sự xúc phạm hoặc khó chịu cho người khác. Điều này cho thấy rằng, uyển ngữ không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà còn là một phần quan trọng trong văn hóa giao tiếp.

3.1. Uyển ngữ trong phong cách hành chính

Trong phong cách hành chính, uyển ngữ được sử dụng để thể hiện sự trang trọng và lịch sự. Các cơ quan nhà nước thường sử dụng uyển ngữ để truyền đạt thông tin một cách tế nhị, nhằm tránh gây ra sự hiểu lầm hoặc phản cảm. Ví dụ, thay vì nói 'sa thải', người ta có thể nói 'cắt giảm nhân sự'. Việc sử dụng uyển ngữ trong phong cách hành chính không chỉ giúp duy trì sự trang trọng mà còn thể hiện sự tôn trọng đối với người nhận thông tin.

IV. Những vấn đề liên quan đến việc chuyển dịch uyển ngữ tiếng Anh sang tiếng Việt

Việc chuyển dịch uyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ. Các uyển ngữ trong tiếng Anh có thể không có tương đương trực tiếp trong tiếng Việt, điều này đòi hỏi người dịch phải có sự nhạy bén và hiểu biết sâu sắc về cả hai ngôn ngữ. Việc nghiên cứu các phương pháp chuyển dịch uyển ngữ không chỉ giúp cải thiện kỹ năng dịch thuật mà còn giúp người học hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau.

4.1. Khó khăn trong dịch thuật

Một trong những khó khăn lớn nhất trong việc chuyển dịch uyển ngữ là sự khác biệt về văn hóa. Nhiều uyển ngữ trong tiếng Anh có thể mang ý nghĩa sâu sắc trong bối cảnh văn hóa của người bản ngữ, nhưng khi dịch sang tiếng Việt, chúng có thể không còn giữ được ý nghĩa đó. Điều này đòi hỏi người dịch không chỉ phải hiểu rõ về ngôn ngữ mà còn phải nắm bắt được các khía cạnh văn hóa liên quan. Việc nghiên cứu và phân tích các khó khăn này sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch thuật và tạo ra những bản dịch chính xác và phù hợp hơn.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu không phù hợp (false starts), dừng nghỉ (pauses), thêm bớt (additions and ommissions), cho nên hdnh năng thực sự (actual performance) không thé phan ánh được ngữ pháp chứa đựng trong tri năng của người sử dụng. Vì thế mà cần tập trung nghiên cứu và mô tả ngôn ngữ thông qua tri năng đã được trừu tượng hoá hơn là thông qua các dữ liệu ngôn ngữ trong lời nói tự nhiên (hành năng) thường hay bị di chệch đối với các quy luật ngữ pháp. Như vậy, khi phân biệt ra hai phạm vi tri năng và hành năng Chomsky xem tri năng như là cơ cau vững chắc và trọng yếu, tập trung vào tri năng chính là tập trung vào những gì chính yếu va quan trong nhất, còn hành năng chang qua là những hiện tượng thứ yếu, phụ gia, và không quan trọng [165, 24]. Uyên ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ tinh tế và phức tạp.

Chúng có thé là các khuôn mẫu (models), những hình thái ngôn ngữ chuẩn mực được bao gồm trong hành năng chịu các cơ chế về sản sinh chuyển đổi để tạo nghĩa. Nhưng rõ ràng uyên ngữ không chi gò bó lệ thuộc vào tri năng. Wales [79] cho rằng sự phân biệt tri ndng-hanh năng không bao gồm sự thich hop (appropriateness) của một phát ngôn trong một ngữ cảnh sử dụng nào đó hay ý nghĩa văn hoá xã hội của phát ngôn ấy. Chính sự thích hợp và yếu tô văn hoá xã hội là hai điểm tựa cơ bản về ngữ nghĩa của một uyén ngữ, đó chính là môi trường ngữ nghĩa của uyén ngữ.

Vào những năm 1960, một số nhà ngôn ngữ học bắt đầu lưu ý đến các hiện thực phức tạp của việc sử dụng ngôn ngữ trong xã hội. Các bài nghiên cứu ngôn ngữ mang sắc thái xã hội được thực hiện, như các bài nghiên cứu của Dell Hymes năm 1964, của Bright năm 1966, của Fisherman năm 1968 và 1971. Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong xã hội, theo W. Labov [121, 60], không gò bó trong phạm vi hình thái trừu tượng hay thuần tuý của nó, như Saussure và 18 Chomsky đã làm đối với ngén ngữ (langue) hay tri năng (competence), mà ngược lại, giờ đây /ời nói (parole) theo quan điểm của Saussure, và hành năng (performance) trở thành chát liệu của ngôn ngữ hoc (substance of linguistics), vì Labov [121, 153] cho rằng.

điểu hiển nhiên là dit liệu cơ bản cho bat kỳ loại hình ngôn ngữ học đại cương nào sẽ là ngôn ngữ khi nó được sử dụng bởi người bản xứ để giao tiếp với nhau trong đời sống hàng ngày. Hymes [117], có những quy luật sử dụng ngôn ngữ (rules of language use) có mối quan hệ thân thiết với các quy luật tương tác xã hội và hành vi xã hội thích hợp mà lý thuyết cua Chomsky đã bỏ qua. Hymes [117] mở rộng lý thuyết tri năng của Chomsky, cho rang tri năng hay năng lực ngữ pháp chỉ là một thành phần của toàn bộ năng lực mà một người bản xứ cần thụ đắc. Họ gọi năng lực này là năng luc giao tiếp (communicative competence), bao gồm kiến thức về các quy luật ngôn ngữ được sử dụng trong các tinh huống và ngữ cảnh văn hoá xã hội cụ thể, bên cạnh năng lực ngữ pháp (linguistic competence), hay tri năng của Chomsky, va phân biệt với hành năng chỉ sự thé hiện cụ thé tri năng với tat cả các lỗi về sự thể hiện (performance errors), hay biến trạng hành ngôn như đã nói ở trên.

Sau này, vào năm 1980, M. Nam được một uyên ngữ có nghĩa là sử dung và hiểu được uyén ngữ ấy trong các tình huống giao tiếp. Nắm được một biện pháp cú pháp mang uyên tinh cũng có nghĩa là nói và hiểu được nó trong thực tế giao tiếp. Vì thế mà năng lực giao tiếp đã đáp ứng mọi yêu cầu can có được của kiến thức và khả năng sử dụng uyén ngữ hay các biện pháp cú pháp mang uyén tính.

Không có kiến thức về văn hoá xã hội của các uyền ngữ, không thông qua tương tác theo từng ngữ cảnh cụ thé đối 19 với ngôn ngữ dang sử dụng, nam được các quan hệ đối với các yếu tô giao tiếp thi người sử dụng làm sao có được một năng lực sử dung các uyén ngữ ấy một cách thích hop và hiệu quả. Không nghi ngờ gì nữa, uyén ngữ và khả năng sử dụng uyễn ngữ được bao ham trong năng lực giao tiếp. Nhìn chung, cùng với sự phát triển về kinh tế văn hoá xã hội của các cộng đồng, uyén ngữ cũng có những phát triển và thay đổi nhất định. Các lĩnh vực hành chức của uyên ngữ đã trở nên nhiều hơn so với trước đây.

Tuy nhiên, mdi cho đến thời kỳ của Ngôn ngữ xã hội học, của ngữ dụng học, uyễn ngữ mới có cơ hội thể hiện đây đủ ý nghĩa của mình, mới chuyên chở hết các nét nghĩa văn hoá xã hội thích hợp, mới thể hiện các yếu tổ thẩm mỹ, trong giao tiếp bang lời hay qua các văn bản viết. Và cũng cho đến thời kỳ này, khuôn mặt ngôn ngữ học của uyễn ngữ như một biến thé ngôn ngữ (linguistic variation), một hành động lời nói (a speech act), hoặc bao trum hơn, một biện pháp tu từ (stylistic device) sử dụng một cách thích hợp và thẩm mỹ trong các tình huống giao tiếp với các đặc trưng về ngữ âm, từ vựng và cu pháp, mới trở nên rõ nét trong ngôn ngữ học hiện đại. CÁC BÌNH DIỆN NGHIÊN CỨU UYEN NGỮ Ba bình điện có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động và ngữ nghĩa của uyễn ngữ đó là từ vựng học, phong cách học, và ngữ dụng học. Luận án cho rằng ba bình diện từ vựng học, phong cách học và ngữ dụng học của một uyễn ngữ có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau trong việc xác định ngữ nghĩa của uyén ngữ đó.

Từ vung học, với các nguyên tắc nghĩa học sẽ làm cơ sở giới thiệu các nét nghĩa khác nhau của uyén ngữ. Phong cách học và ngữ dụng học sẽ giúp hiện thực hoá (realisation) các nét nghĩa ngữ nghĩa học của uyén ngữ: phong cách học đưa ra những nguyên tắc giúp chúng ta lựa chọn các yếu tổ ngôn ngữ, trong đó có uyên ngữ cho phù hợp một phong cách chức năng nào đó; ngữ dụng học, với những nguyên tắc và cơ chê nghiên cứu ngữ nghĩa của nó sẽ giúp việc hiện 20 thực hoá các nét nghĩa của uyên ngữ một cách thích hợp và đạt hiệu quả trong giao tiếp. UYEN NGU TREN BÌNH DIỆN TỪ VỰNG HOC Việc nghiên cứu nghĩa được tạo lập thế nào trong một ngôn ngữ chính là công việc của ngữ nghĩa hoc (Semantics), và chính vì thé mà ngôn ngữ học quan tâm chủ yếu đến các ý nghĩa của các từ. Phạm vi nghiên cứu của ngôn ngữ học không chỉ dừng lại ở cấp độ từ vựng mà còn hướng đến những cấp độ thấp hơn như hình vị và cao hơn như từ ngữ (phrases) hay câu (sentences).

Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu ấy của ngữ nghĩa học, như G. Yule [168, 4] đã xác định, chi nghiên cứu những mối quan hệ giữa các hình thái ngôn ngữ và các thực thể (entities) của thé giới khách quan, có nghĩa là, các từ được gắn lién một cách chính xác với các sự vật như thé nào và sự phân tích ngôn ngữ học có gắng hình thành các mối quan hệ giữa các miêu tả bằng lời với tình trang sự vật ở thé giới khách quan một cách chính xác, bat kế người nói đó là ai. Nhiều uyén ngữ có nghĩa độc lập với cách dùng, tuy nhiên muốn năm được chính xác, đầy đủ cái nghĩa độc lập với ngữ cảnh của uyên ngữ thì không thể không phân tích cách dùng của nó. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu nghĩa của ngữ nghĩa học sẽ giúp chúng ta nắm được các nét nghĩa này của uyén ngữ, làm cơ sở ngữ nghĩa giúp ta tiến sâu vào nghiên cứu uyên ngữ ở bình diện phong cách và ngữ dụng.

CAC NET NGHĨA CUA UYEN NGỮ Một uyễn ngữ đang được sử dụng muốn được đưa vào hệ thống ngôn ngữ it nhất nó cần phải có một nét nghĩa dé có thé khu biệt với các uyên ngữ hay đơn vị khác trong hệ thống. Tác giả 21 nhấn mạnh rang nếu nội dung một ngôn bản có hai thành phan: nội dung miêu ta và nội dung liên nhân, thì trong cấu trúc ý nghĩa của từ cũng có sự phân biệt các nét nghĩa miêu tả và các nét nghĩa liên cá nhân, tức các nét nghĩa dụng học [4, 184]. Cau trúc biéu niệm của từ xanh, đó là [thuộc tính vật ly], [có cảm giác], [về thị giác: màu sắc]. Đây là những nét nghĩa miêu tả, phản ánh thuộc tính bản thể của màu xanh.

Nhưng xanh khác với xanh xao với nét nghĩa [của màu da con người]. Nét nghĩa này cũng là nét nghĩa miêu tả. Nhưng ngoài nét nghĩa đó ra thì xanh xao còn có nét nghĩa [yếu ớt, bệnh hoạn]. Nét nghĩa này chính là nét nghĩa do con người cảm nhận ma có.

Đó là nét nghĩa dụng học. Từ mat mẻ trong hai phát ngôn sau đây rõ ràng khác nhau nhưng lại có quan hệ ý nghĩa với nhau: nét nghĩa của từ mát mẻ ở phát ngôn (3) rõ ràng dựa vào nét nghĩa miêu ta của từ này ở phát ngôn (2): (2) Hôm nay trời thật mát mẻ. (3) Hôm nay trông cô ta thật mat mẻ. Một số từ hay ngữ bình thường có thé trở thành uyén ngữ nhờ vào nét nghĩa dụng học mới được gắn vào cho chúng thông qua sử dung.

Chang hạn, chúng ta có thê nói về thời tiết khác thường bằng cả hai từ abnormal và exceptional nêu khi đang giữa mùa nắng nóng trời đột ngột chuyển mưa lạnh. Nhưng nếu ta dùng an exceptional child (một đứa trẻ xuất chúng) thì rõ ràng đó không đồng nghĩa với an abnormal child (một đứa trẻ bất thường); ở đây từ exceptional được dùng với nét nghĩa tích cực, chỉ khả năng vượt trội đối với khả năng bình thường, va abnormal nói đến một khuyết tật nào đó. Tuy nhiên, ngày nay, người ta cũng sử dụng từ exceptional như là một uyên ngữ dé chỉ một khuyết tật nào đó của con người, thay vì phải dùng từ đích xác, đó là từ abnormal. Như vậy, nắm được các nét nghĩa miêu tả và dụng học của từ sẽ giúp chúng ta tạo ra hay hiểu được có được nét nghĩa của uyên ngữ, từ đó có thé sử dụng và hiểu được uyén ngữ một cách dé dàng hơn trong giao tiếp.

22 Nhiều uyén ngữ có nét nghĩa biểu thái (affective) mang nhiều yếu tố đánh giá, cảm xúc, hay bày tỏ thái độ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu uyển ngữ trong tiếng Anh và chuyển dịch sang tiếng Việt" khám phá khái niệm uyển ngữ, một yếu tố quan trọng trong giao tiếp, giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ một cách tinh tế và hiệu quả. Tác giả phân tích các ví dụ cụ thể từ tiếng Anh và cách chuyển dịch chúng sang tiếng Việt, từ đó chỉ ra những khác biệt và tương đồng trong cách diễn đạt. Bài viết không chỉ cung cấp kiến thức lý thuyết mà còn mang lại những ứng dụng thực tiễn trong việc giao tiếp hàng ngày, giúp người đọc nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ của mình.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ học, hãy tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học cấu trúc ngữ nghĩa ngữ dụng của phép nối trong tiếng việt so sánh với tiếng anh", nơi bạn có thể tìm hiểu về cấu trúc ngữ nghĩa trong hai ngôn ngữ. Ngoài ra, bài viết "Luận án tiến sĩ đối chiếu các đơn vị từ vựng thuộc trường thị giác trong tiếng việt và tiếng anh" sẽ giúp bạn so sánh từ vựng giữa tiếng Việt và tiếng Anh, mở rộng hiểu biết về cách mà ngôn ngữ phản ánh thế giới quan. Cuối cùng, bài viết "Luận án lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng việt có liên hệ với tiếng anh" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức giới thiệu bản thân trong hai ngôn ngữ, từ đó giúp bạn cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình.