phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lí luận Chƣơng 2: Chủ đề phương trình và thực trạng xây dựng đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập chủ đề phương trình trong môn Toán THPT Chƣơng 3: Vận dụng thang bậc nhận thức của Bloom để xây dựng MT và đánh giá mức độ đạt MT dạy học môn Toán THPT - chủ đề PT -5- z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Hoạt động dạy và hoạt động học 1. Bản chất và mục đích của hoạt động dạy 1. Bản chất của hoạt động dạy Theo Lê Văn Hồng: “Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức và điều khiển hoạt động của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng” [8,tr.
Trong tài liệu Cẩm nang năng lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên [2,tr.73-74], các tác giả đã chỉ ra một số đặc trưng của hoạt động dạy học: - Hoạt động dạy học là hoạt động đặc trưng của nhà trường. Việc dạy có thể diễn ra mọi nơi mọi lúc bởi bất cứ ai, nhưng hoạt động dạy học là hoạt động đặc thù của nhà trường bởi hoạt động này được tiến hành có kế hoạch, có mục đích tôn chỉ rõ ràng, với nội dung mang tính khoa học và tính hệ thống và đặc biệt được thực hiện bởi đội ngũ được đào tạo sư phạm chuyên nghiệp. - Dạy học là một bộ phận của quá trình dạy học, là một trong những con đường quan trọng nhất để thực hiện mục đích giáo dục. Quá trình dạy học được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sư phạm đặc thù nhằm trang bị cho HS hệ thống kiến thức khoa học, hình thành kỹ năng cũng như thái độ tương ứng.
Thực tế trong nhà trường chúng ta vẫn phân chia hai khái niệm là dạy học và giáo dục. Về bản chất, hoạt động dạy học bao giờ cũng hàm chứa giáo dục trong đó. Đó cũng là lý do vì sao dạy học là con đường giáo dục cơ bản và đặc trưng của nhà trường. Hơn nữa, nội dung các môn học chứa đựng thành tựu khoa học, những kinh nghiệm của xã hội loài người cũng như những giá trị của chúng nên khi tiếp nhận những nội dung này, người học được hướng dẫn để chiếm lĩnh luôn cả con đường đạt kiến thức ấy bởi “phương pháp là sự vận động bên trong của nội dung” – (Hêghen) và hình -6- z thành thái độ đối với những gì loài người tạo ra.
Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học được tiến hành phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý người học, tác động vào sự hứng thú và nhu cầu của người học, làm nảy sinh tính tích cực, phát triển các phẩm chất nhân cách đặc thù cho người học. Giáo dục nhân cách thông qua hoạt động học tập là con đường cơ bản nhất của nhà trường. - Dạy có thể diễn ra thường ngày, được tiến hành bởi bất cứ ai và dạy trong nhà trường thường được gọi là dạy học và được tiến hành bởi những nhà sư phạm, những người được đào tạo nghề dạy học. - Dạy trong nhà trường chủ yếu dạy cho trẻ những tri thức khoa học, hình thành những năng lực người ở trình độ cao.
Dạy thường ngày cũng dạy cho trẻ những năng lực người, nhưng đó là những năng lực đầu tiên của cuộc đời, những năng lực để tồn tại trong cuộc sống xã hội. Dạy học trong nhà trường giúp trẻ được lĩnh hội tri thức một cách hệ thống khoa học và trẻ được đào tạo theo một phương thức đặc biệt và người lớn là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Vì vậy khi nói tới hoạt động dạy học chúng ta hiểu dạy theo phương thức nhà trường. Mục đích của hoạt động dạy Mục đích của hoạt động dạy là giúp trẻ lĩnh hội nền văn hóa xã hội, phát triển tâm lý, hình thành nhân cách (theo Lê Văn Hồng [8,tr.
Mục đích này được thể hiện ở việc người học tái hiện, nắm vững, vận dụng, đánh giá. nội dung kiến thức của từng bài, môn học cụ thể. Sự trưởng thành nhân cách của người học sau quá trình học được thể hiện ở chỗ: sự lớn lên về mặt tâm lý và nhân cách của trẻ diễn ra đồng thời với quá trình xã hội hóa, tức là bằng hoạt động và giao tiếp của mình, người học hòa nhập vào các quan hệ xã hội và lĩnh hội nền văn hóa xã hội nhờ vai trò trung gian của người lớn. Để đạt mục đích đó, người dạy tổ chức quá trình tái tạo tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội ở người học.
Người dạy sử dụng tri thức như là phương -7- z tiện, vật liệu để tổ chức và điều khiển người học lĩnh hội tri thức, cách thức và con đường tiếp cận tri thức ấy, qua đó hình thành tâm lý mới cho người học, làm cho người học vừa ý thức được đối tượng cần lĩnh hội, vừa biết cách chiếm lĩnh nó. Tính tích cực này quyết định chất lượng học tập ở người học. Bản chất và đặc điểm của hoạt động học 1. Bản chất của hoạt động học Khái niệm “Học” dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức hàng ngày, nghĩa là học qua lao động, vui chơi, qua kinh nghiệm.
Hoạt động này đem lại cho con người những tri thức tiền khoa học, hình thành được những năng lực thực tiễn, trực tiếp do kinh nghiệm hàng ngày mang lại. Khái niệm “Hoạt động học” dùng để chỉ hoạt động học diễn ra theo phương thức nhà trường – một phương thức học đặc biệt của loài người (có tổ chức, điều khiển, nội dung, trình tự, v. Qua hoạt động học, người học tiếp thu được những tri thức khoa học, những năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Vậy, hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác để lĩnh hội những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định nhằm phát triển nhân cách của chính mình.
Đặc điểm của hoạt động học Hoạt động học là hoạt động có đối tượng và có ý thức Đối tượng của hoạt động chính là những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng của môn học hay một khoa học. Mục đích của việc học là giúp cho con người chiếm lĩnh toàn bộ những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và hình thành nên thái độ của mình và giúp con người có khả năng, năng lực làm việc mới. Vì vậy, học tập là một quá trình căng thẳng, là quá trình người học phải vận dụng tích cực những chức năng tâm lý của mình như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng để lĩnh hội tri thức. -8- z Sự tiếp thu lĩnh hội này là sự tiếp thu có tính tự giác cao có nghĩa là được chủ thể biến thành nhiệm vụ của mình và tích cực chiếm lĩnh.
Vì vậy, người dạy cần phải tổ chức học tập phát huy được tính tích cực của người học, làm nảy sinh nhu cầu nhận thức và phát hiện được đối tượng của chính việc nhận thức. Kết quả của hoạt động học là làm thay đổi chính bản thân Học tập làm thay đổi bản thân người học trong sự thay đổi của môi trường xung quanh. Người học tiếp thu những giá trị tinh hoa mà loài người ở thế hệ trước để lại trong sản phẩm đồ vật, trong các mô hình biến thành cái của chính mình, phát triển nhân cách của mình. Vì vậy, người học càng tiếp thu được đối tượng sâu sắc bao nhiêu thì sức mạnh vật chất và tinh thần của họ càng được phát huy bấy nhiêu và sự thay đổi tâm lý trong chính họ ngày càng lớn lao và mạnh mẽ.
Hoạt động học tập không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới mà còn hướng vào việc tiếp thu cả phương pháp giành tri thức đó (cách học). Hoạt động học không những giúp người học tiếp thu những tri thức lý luận, kĩ năng, kĩ xảo, mà còn tiếp thu tri thức của bản thân hoạt động tức là tiếp thu về phương pháp hoạt động. Hay nói cách khác là cách tìm hiểu, khám phá sự vật hiện tượng. Vì vậy, cần phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc hình thành cách học cho người học vì đây sẽ là công cụ hàng ngày không thể thiếu được của họ.
Mặt khác, nội dung và tính chất của cách học sẽ quyết định chất lượng của việc lĩnh hội tri thức và đến một lúc nào đó tri thức lại đủ sức trở thành công cụ phục vụ cho việc tiếp thu tri thức mới nên cần tiến hành hai hoạt động này song song. Quan hệ giữa kiểm tra - đánh giá với hoạt động dạy và học 1. Mối quan hệ giữa KT-ĐG với quá trình dạy học -9- z KT-ĐG không chỉ là công đoạn cuối cùng của quá trình dạy học mà còn là cơ sở khoa học để điều chỉnh và định hướng quá trình dạy học nhằm làm cho quá trình này đạt MT đề ra. Quá trình dạy học phải luôn hướng đến MT và chịu sự chi phối và điều khiển bởi MT thông qua KT-ĐG.
Tùy theo loại đánh giá mà sự chi phối này là khác nhau. Đánh giá thực hiện khi bắt đầu dạy (có thể một chương hay một vấn đề quan trọng nào đó) giúp cho GV nắm được tình hình về những kiến thức liên quan đã có của HS, những điểm HS chưa nắm vững và đi đến quyết định về những nội dung dạy học cần bổ khuyết và PPDH cho thích hợp. Đánh giá từng phần, thường xuyên, định kì được tiến hành nhiều lần trong quá trình dạy học giúp GV điều chỉnh phương pháp cũng như nội dung dạy học. KT-ĐG thường xuyên, định kì tạo cơ hội cho GV xem xét hiệu quả việc thực hiện những đổi mới về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình triển khai.
Việc KT-ĐG sẽ cung cấp thông tin về kết quả học tập cho HS. Qua đó HS kịp thời điều chỉnh phương pháp học cho phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp của GV. Đánh giá tổng kết hay thi được tiến hành khi kết thúc quá trình dạy học bằng kì thi hết môn, kì thi học kì, kì thi tốt nghiệp nhằm so sánh đối chiếu kết quả đạt được của HS với những MT mà môn học đề ra. Nội dung thi, cách thi ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy học.
Ngoài ra, dựa vào kết quả KT-ĐG, GV có thể kiến nghị, đề xuất điều chỉnh nội dung sách giáo khoa hay giảm tải chương trình.