Đặt vấn đề Hiện nay, môi trường là một vấn đề đang được quan tâm hàng đầu trong mọi lĩnh vực, các ngành nghề ở Việt Nam. Chính vì vậy mà vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường từ chất thải của các ngành đang được theo dõi ngày càng chặt chẽ. Hiện nay, có rất nhiều các công nghệ đã và đang được áp dụng để xử lý nước thải. Trong đó, xử lý nước thải bằng phương pháp bùn hoạt tính thông thường (Conventional Activated Sludge – CAS) đã được áp dụng từ lâu và hiện tại quá trình này vẫn được xem là một công nghệ truyền thống và kinh điển.
Tuy nhiên, sau thời gian được áp dụng, quá trình bùn hoạt tính bộc lộ một số nhược điểm trong quá trình vận hành các hệ thống xử lý nước thải. Một trong số nhược điểm chính của công nghệ CAS là lượng bùn sinh ra lớn, cần sử dụng bể lắng để tách sinh khối sau xử lý. Đồng thời, nước thải sau xử lý còn tồn tại các vi sinh vật có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đặc biệt là trong ngành nước thải y tế. Bên cạnh đó, công nghệ CAS với thời gian lưu lớn gây tốn kém diện tích xây dựng, dễ xảy ra các hiện tượng bùn khó lắng, hiệu quả loại bỏ nitơ không cao.
Bên cạnh công nghệ bùn hoạt tính hiếu khí truyền thống. Ngày nay, công nghệ màng lọc sinh học hiếu khí (MBR) chính là quá trình kết hợp giữa bùn hoạt tính hiếu khí và màng lọc với nhiệm vụ phân tách tuyệt đối pha rắn-lỏng, tách sinh khối ra khỏi hỗn hợp sinh khối và nước thải. Công nghệ MBR lần đầu tiên được giới thiệu từ những thập niên 1960s và phát triển mạnh mẽ vào đầu những năm 90, Kể từ đó đến nay, công nghệ MBR đã được cải tiến nhiều mặt (Stephenson, 2000). Đồng thời những lợi ích mà công nghệ MBR đem lại trong xử lý nước và nước thải đã làm cho công nghệ này được áp dụng ngày càng rộng rãi trong những năm gần đây (Judd, 2006; Wen, 2004).
Quá trình MBR có nhiều ưu điểm hơn so với bùn hoạt tính CAS thông thường. Việc áp dụng công nghệ MBR cho những không gian nhỏ hẹp do diện tích hệ thống xử lý nhỏ gọn. Với công nghệ màng lọc MBR, có thể vận hành với mật độ sinh khối rất cao, thời gian lưu bùn dài, lượng bùn sinh ra thấp và vận hành linh hoạt (Visvanathan và cộng sự, 2000). Page 16 Luận Văn Thạc Sỹ Với các ưu điểm nổi trội thì công nghệ màng lọc sinh học hiếu khí MBR đã hoàn toàn được tin tưởng và áp dụng rộng rãi, đặc biệt là đối với nước thải bệnh viện.
Nước thải bệnh viện là loại chứa nhiều vi khuẩn, vi rút gây bệnh, xử lý nồng độ nitơ cao, bên cạnh đó, tiết kiệm diện tích xây dựng cũng là một trong những mối quan tâm lớn, công nghệ MBR có thể đáp ứng được các yêu cầu trên. Tuy nhiên, nhược điểm chính của công nghệ MBR chính là bẩn màng. Hiện nay, có nhiều phương pháp được áp dụng để giảm thiểu quá trình bẩn màng, một trong những phương pháp được áp dụng là việc thêm giá thể di động sponge vào bể MBR. Phương pháp này có thể làm giảm thiểu tiến trình bẩn màng và giảm áp suất, trở lực qua màng (TMP) trong bể MBR (Sombatsompop và cộng sự, 2007; Liu và cộng sự, 2010; Ngo và cộng sự, 2008).
Việc cho giá thể di động sponge vào bể MBR còn làm tăng hiệu quả khử nitơ nhờ quá trình thiếu khí xảy ra bên trong các sponge (Nguyen và cộng sự, 2010; Thanh và cộng sự, 2013; Ngo và cộng sự, 2007). Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ Sponge – MBR (module màng tấm phẳng) xử lý nước thải y tế” nhằm góp phần tham gia nghiên cứu ứng dụng công nghệ MBR trong xử lý nước thải. Đề tài cũng góp phần nghiên cứu khả năng giảm bẩn màng và tăng cường khả năng khử nitơ của hệ thống cũng nhử khả năng loại bỏ chất kháng sinh của MBR có bổ sung giá thể sponge. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nhằm mục tiêu khảo sát đặc tính bẩn màng và đánh giá khả năng xử lý nước thải y tế đặc biệt là chất kháng sinh của hệ thống Sponge Membrane Bioreactor (SMBR) module màng tấm khi vận hành ở thông lượng cao.
Phạm vi nghiên cứu - Khảo sát 20 cơ sở y tế trên địa bàn Tp. HCM - Nước thải được lấy từ một bệnh viện trên địa bàn Tp. HCM - Mô hình có bổ sung giá thể sponge với tỷ lệ 20% thể tích bể phản ứng. - Nghiên cứu hiệu quả xử lý, theo dõi tiến trình bẩn màng ở các thông lượng 10; 15; 20 L/m2.h Page 17 Luận Văn Thạc Sỹ CHƯƠNG 2.1 Tổng quan về nước thải y tế 2.1 Hiện trạng và tình hình xử lý nước thải y tế tại Việt Nam Năm 2012, theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, hiện có khoảng 13.511 cơ sở y tế trên cả nước.
Tổng lượng nước thải y tế ước tính phát sinh tại các cơ sở y tế cần được xử lý khoảng 125.000 m3/ngày chưa kể lượng nước thải của các cơ sở y tế thuộc hệ dự phòng, các cơ sở đào tạo y dược, sản xuất thuốc và cơ sở y tế Bộ, Ngành. Theo thống kê, hiện nay chỉ có khoảng 54.4% các bệnh viện là được trang bị hệ thống xử lý nước thải. Tuy vậy, hệ thống xử lý chất thải ở nhiều bệnh viện hiện nay đã xây dựng, lắp đặt và vận hành lâu đời và đã xuống cấp. Chính vì vậy các hệ thống này cần được sửa chữa, nâng cấp và cải tạo cho phù hợp với quy mô phát triển của các cơ sở y tế để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân đồng thời cũng phải đảm bảo nước thải sua xử lý phải đáp ứng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường Tp. HCM (2012), mỗi ngày, các bệnh viện trên địa bàn thành phố thải ra môi trường 23,000 m 3 nước thải y tế. Trong đó, nước thải phát sinh tại 322 trạm y tế phường xã đang xả thải trực tiếp ra môi trường mà chưa được xử lý. Trong số 285 phòng khám đa khoa và chuyên khoa không có hệ thống xử lý nước thải, thì đến 200 cơ sở đổ nước thải vào hệ thống chung của thành phố.
Trong 21 bệnh viện trực thuộc trung ương trên địa bàn TP.HCM thì có đến 10 bệnh viện có nhiều bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải hoặc hệ thống xử lý nước thải chưa đạt chuẩn. Hiện tại các loại công nghệ đang sử dụng xử lý nước thải y tế bao gồm Công nghệ bùn hoạt tính, bể lọc sinh học, bể lọc sinh học nhỏ giọt, bể tiếp xúc sinh học, bể sinh học màng (MBR), bể phản ứng theo mẻ (SBR) là công nghệ phổ biến cho XLNT bệnh viện tại Việt Nam và phân thành các nhóm sau: Bùn hoạt tính nối tiếp lọc sinh học nhỏ giọt (Nhóm 1), CN2000 xử lý hữu cơ tải trọng cao (là công nghệ kị khí-thiếu khí-hiếu khí kết hợp, có giá thể và khử trùng bằng ozone (Nhóm 2), sinh học có giá thể như lọc sinh học (Bio-for), V69 (hiếu khí bùn hoạt tính-lắng lamella), Page 18 Luận Văn Thạc Sỹ FBR (nhóm 3), xử lý sơ bộ + yếm khí/bể tự hoại (Nhóm 4), công nghệ AAO, SBR và khử trùng O3 hoặcUV (Nhóm 5).Ngoài ra có một số bệnh viện sử dụng công nghệ sinh học màng (Membrane Bioreactor) như bệnh viện Hoàn Mỹ, và ĐK Quận 8 (không khảo sát các Bệnh Viện này). Về phương pháp khử trùng nước thải hiện nay các BV sử dụng là dùng Hypochlorite calcium (CaOCl), chloruamin B, ozone, tia cực tím (UV). Loại công nghệ xử lý, nhóm I chiếm ưu thế hơn (56,9%) do chi phí đầu tư thấp, ở TP HCM tỷ lệ này là 60,9%.
Loại II xử lý sinh học cao tải (CN2000 mới đầu tư). Các hệ xử lý nước thải nhóm III chiếm 9,8% ,công nghệ này được đầu tư tại các bệnh viện với tên V69. Bên cạnh đó còn một số tên gọi thiết bị khác là BIOX1, BIO sinh học và FBR. Có 15,7% bệnh viện sử dụng công nghệ loại IV đơn giản, đầu tư thấp, 6,9% bệnh viện được đầu tư hệ xử lý công nghệ AAO, công nghệ SBR (loại V) và một số khác với suất đầu tư cao hơn.
Công nghệ bùn hoạt tính sinh nhiều bùn hơn (0,012% m3 bùn/công suất năm) so với công nghệ khác như sinh học tiếp xúc hoặc lọc sinh học cao tải. Thành phần, tính chất nước nước thải Nước thải y tế phát sinh từ các cơ sở y tế, phòng khám đa khoa, chủ yếu là từcác bệnh viện lớn nhỏ đang hoạt động trên địa bàn thành phố. Nước thải bệnh viện có nguồn gốc từ: Nước thải phát sinh từ các hoạt động khám và chữa bệnh, điều trị bệnh và các dịch vụ hỗ trợ (giặt giũ quần áo, chăn màn,… cho bệnh nhân). Nước thải sinh hoạt của đội ngũ bác sĩ, y sĩ, công nhân viên, bệnh nhân và thân nhân từ khu vực toilet, lavabo,…của bệnh viện.
Nước thải từ quá trình rửa các dụng cụ y tế (dao, kéo,…) trong quá trình xét nghiệm, giải phẫu, súc rửa các dụng cụ y khoa (các ống nghiệm, lọ hóa chất…) cho bệnh nhân. Đồng thời có một lượng nước thải phát sinh từ quá trình lau rửa sàn và tẩy trùng các phòng bệnh ở bệnh viện Do đó, nhìn chung tính chất nước thải bệnh viện có thành phần và tính chất tương tự nước thải sinh hoạt, nhưng bện cạnh đó, nước thải y tế là nguồn chứa thêm Page 19 Luận Văn Thạc Sỹ các thành phần đặc trưng như: vi khuẩn, vi rút gây bệnh, các chất kháng sinh, kim loại nặng, chất độc, dược phẩm (PhACs – Pharmaceutical Active Compounds), hóa chất trong quá trình điều trị, chữa bệnh (PPCPs); chất phóng xạ từ quá trinh chuẩn đoán và điều trị). Các thông số ô nhiễm nước thải bệnh viện tại Việt Nam (Chi và cộng sự, 2010), Indonesia (Prayitno và cộng sự, 2013), Mexico (Emmanuel và cộng sự, 2004 ) Thông số Đơn vị Việt Nam Indonesia Mexico COD mg/l 250 -500 110 – 351 855 BOD mg/l 180 – 280 87 - 239 603 SS mg/l 150 – 300 43 – 83 225 TN mg/l 50 – 90 - - TP mg/l 3 – 12 2.8 H2 S mg/l 6–8 - - Total Coliforms MPN/100 ml 106 - 109 - - Nguồn gốc xuất hiện các dược phẩm, hóa chất trong nước thải bao gồm chủ yếu từ: các hóa chất, dược phẩm từ quá trình xét nghiệm, vệ sinh, sát trùng, chuẩn đoán bệnh, chất thải từ quá trình bài tiết của người bệnh có sử dụng các dược phẩm, hóa chất trong quá trình điều trị.