PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hệ thống giao thông vận tải đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giữ cho huyết mạch giao thông của đất nước luôn thông suốt, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, giúp cho các hoạt động sinh hoạt được thuận tiện. Để hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ, ngoài việc đầu tư xây dựng mới vào các công trình cầu, đường, hầm,. thì chất lượng xây dựng công trình giao thông cũng là một mục tiêu hết sức quan trọng, góp phần đảm bảo khai thác an toàn và nâng cao năng lực vận tải của toàn hệ thống hạ tầng giao thông.
Bê tông nhựa là một loại vật liệu vô cùng quan trọng trong đường bộ. Nó có mặt hầu hết ở các tầng phủ của các mặt đường mềm cấp cao. Bê tông nhựa không những được sử dụng trong đường ôtô, mà còn sử dụng rộng rãi trong đường đô thị, đường sân bay. Thành phần quan trọng của Bê tông nhựa là chất kết dính bitum, có nhiệm vụ kết dính với cốt liệu thành một khối bền vững.
Sự liên kết giữa bitum với cốt liệu có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng mặt đường. Một vấn đề thực trạng hiện nay, một số tuyến đường bê tông nhựa ở nước ta sau một thời gian đưa vào sử dụng đã xuất hiện phổ biến các dạng hư hỏng mặt đường bê tông nhựa như: rạn nứt, bong bật, hằn lún vệt bánh xe. Vì vậy, vấn đề được đề cập trong phạm vi đề tài nghiên cứu là đưa ra định hướng nghiên cứu các đặc tính của bê tông nhựa, giảm thiểu hằn lún vệt bánh xe cho mặt đường bê tông nhựa bằng cách sử dụng vật liệu nano cacbon làm phụ gia cho bê tông nhựa để đáp ứng nhu cầu sử dụng và khai thác mạng lưới đường bộ Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu khả năng ứng dụng bê tông nhựa có sử dụng phụ gia nano cacbon trong xây dựng đường ô tô nhằm giảm thiểu hằn lún vệt bánh xe cho mặt đường bê tông nhựa.
Đối tƣợng nghiên cứu Mặt đường ô tô sử dụng kết cấu bê tông nhựa có sử dụng phụ gia nano cacbon. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu, đánh giá dựa trên kết quả thí nghiệm trong phòng bê tông nhựa có sử dụng phụ gia nano cacbon, cụ thể là vật liệu ống nano carbon (Carbon Nanotubes – CNTs) trong xây dựng đường ô tô, qua đó đánh giá được khả năng giảm thiểu hằn lún vệt bánh xe cho mặt đường bê tông nhựa sử dụng nano carbon làm phụ gia. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu, đánh giá dựa trên kết quả thí nghiệm các mẫu bê tông asphalt sử dụng vật liệu không sử dụng loại vật liệu nano cacbon, 0,1% nano cacbon, 0,15% nano cacbon. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU BÊ TÔNG NHỰA VÀ TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU NANO CACBON ĐỂ GIA CƢỜNG CHO BÊ TÔNG NHỰA 1.
Tổng quan về vật liệu nano cacbon. Giới thiệu Định nghĩa về “công nghệ nano” phụ thuộc vào lĩnh vực được nói đến. Tuy nhiên, về cơ bản nano được định nghĩa là sự hiểu biết, kiểm soát, và tái cấu trúc của vật chất theo thứ tự nano mét (tức là dưới 100nm) để tạo ra vật liệu có tính cơ bản và thuộc tính mới. Công nghệ nano và vật liệu nano với kích thước hạt ở quy mô nanomét (10-9m) Hội Thử nghiệm và Vật liệu Hoa Kỳ (ASTM) đã định nghĩa hạt nano là các hạt có kích thước trong khoảng 1 đến 100 nm, có thể hoặc không biểu hiện các tính chất gia tăng liên quan đến kích thước.
Các vật liệu nano thường có kích thước hai hoặc ba chiều trong khoảng từ 1-100 nanomet (1nm = 10-9 m) và có thể được tạo thành từ nhiều vật liệu cơ bản khác nhau (cacbon, silic và các kim loại như vàng, cađimi và selen). Các vật liệu nano cũng có các hình dạng khác nhau thể hiện theo tên gọi như các ống nano, dây nano, các cấu trúc tinh thể như các chấm lượng tử và fullerene. Các vật liệu nano thường thể hiện các tính chất rất khác biệt so với các vật liệu rời riêng biệt: độ cứng cao hơn, tính dẫn điện, phát sáng và các tính chất khác. Đối với nhiều loại hạt nano, 50 đến 100% nguyên tử có thể nằm ở trên bề mặt của chúng khiến cho chúng có tính chất phản ứng mạnh hơn các vật liệu rời.
Các vật liệu nano chế tạo (Engineered nanomaterials) là loại vật liệu nano được tạo ra một cách có chủ ý (trái ngược với loại được hình thành tự nhiên hay ngẫu nhiên). Các vật liệu nano chế tạo có các kích thước dưới 100 nm. Các hạt có kích thước nanomet xuất hiện cả trong tự nhiên cũng như là phụ phẩm vô tình của các quy trình sản xuất hiện tại. Các hạt cỡ nano có 4 trong thành phần của các hạt khí quyển được sinh ra từ các sự kiện tự nhiên như núi lửa phun và cháy rừng.
Chúng cũng có trong phần của khói bụi được sinh ra trong quá trình hàn, đánh gỉ kim loại, khí xả ô-tô và các quá trình công nghiệp khác. Cuộc cách mạng công nghệ nano hiện nay khác với các quá trình công nghiệp trong quá khứ do các vật liệu nano được chế tạo và gia công từ dưới lên, chứ không phải xuất hiện như là phụ phẩm của các hoạt động khác. Các vật liệu nano chế tạo có các tính chất khác lạ ngoài mong đợi so với các tính chất của các hỗn hợp vật liệu sinh ra chúng. Khái niệm và ứng dụng vật liệu nano cacbon Vật liệu nano cacbon được xác định là những vật liệu trong đó “thành phần nano” là cacbon tinh khiết.
Graphite hay than chì là một dạng thù hình của cacbon, có cấu trúc lớp. Mỗi lớp là một tấm graphene, các tấm graphene này liên kết với nhau bằng một lực liên kết yếu như một dạng liên kết Van - Der - Waals. Ống nano cacbon (CNT) là các lớp than chì (graphite) được cuộn lại thành ống. Kích thước của chúng rất khác nhau (đường kính có thể nhỏ tới 0,4 nm) và có thể tồn tại các ống nano bên trong các ống nano khác, điều này dẫn đến có hai loại ống nano cacbon được biết đến là: CNTs đơn tường (SWCNTs) và CNTs đa tường (MWCNTs).
Ngoài độ bền kéo nổi bật, các ống nano còn có nhiều tính chất điện khác nhau (phụ thuộc vào cách cấu trúc than chì cuốn quanh ống và các yếu tố khác) và vì vậy chúng có thể cách điện, siêu dẫn hay dẫn điện. 1 Mô hình 3D của ống nano cacbon đơn vách [1] CNTs là vật liệu có tính chất cơ rất tốt, bền và nhẹ thích hợp cho việc gia cường các vật liệu như cao su, polymer, kim loại để tăng cường độ bền, độ chống mài mòn…Suất Yuong của CNTs gấp 6, độ bền kéo gấp 375 lần so với thép nhưng lại nhẹ hơn thép rất nhiều. a) Chiều đứng; b) Chiều ngang Hình 1. 2 Cấu trúc Graphite [5, tr.6] Hoạt động nghiên cứu các vật liệu nano dựa trên cacbon trong những năm gần đây tập trung vào quá trình chế tạo và xác định tính chất của chúng.
Mặc dù các nhà nghiên cứu đã hiểu khá rõ về cấu trúc và nhiều tính chất cơ bản của ống nano đơn vách và mối tương quan của chúng, nhiều tính chất của ống nano đơn vách không thấy ở than chì. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có hiểu biết cơ bản về cơ chế nuôi cấy ống nano. Đây là những kiến thức quan 6 trọng do nó liên quan chặt chẽ đến các tính chất của ống nano và cấu trúc hình học của chúng. Tổng quan về Bê tông nhựa (BTN): Bê tông nhựa là một loại đá nhân tạo có thành phần chủ yếu là bitum dầu mỏ, hỗn vật liệu khoáng (đá dăm, cát, bột khoáng) và phụ gia.
Nó được sử dụng làm đường ôtô. Căn cứ vào nhiệt độ thi công có 3 loại bê tông nhựa: nóng (1400), ấm (1000), nguội (>50). Căn cứ cỡ lớn nhất của cốt liệu bê tông nhựa được phân ra 4 loại: bê tông hạt lớn, bê tông hạt trung, bê tông hạt nhỏ và bê tông hạt cát ứng với đường kính lớn nhất là lớn hơn 25mm, 19mm, 9. Theo độ rỗng còn lại sau khi đầm chặt bê tông nhựa được phân ra hai loại: Bê tông nhựa đặc (BTA) có độ rỗng còn dư từ 3% đến 6% theo thể tích.
Bê tông nhựa rỗng (BTAR) có độ rỗng còn dư lớn hơn 8% đến 12% theo thể tích dùng làm lớp dưới của mặt bê tông nhựa hai lớp hoặc làm lớp mỏng. Theo cấp độ giao thông bê tông nhựa được phân ra hai loại: loại I và loại II. Các chỉ tiêu kỹ thuật của các loại bê tông nhựa nằm trong giới hạn quy định tại bảng 1.1 theo TCVN 8819:2011 Bảng 1. 1 Các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu với bê tông nhựa chặt (BTNC) [9] Quy định Phương pháp Chỉ tiêu BTNC19; BTNC12,5; BTNC 4,75 thử BTNC 9,5 TCVN 8860- 1.
Số chày đầm 75 x 2 50 x 2 1:2011 7 2. Độ ổn định ở 600C, 40 phút, ≥ 8,0 ≥ 5,5 Kn 3. Độ dẻo, mm 2÷4 2÷4 TCVN 8860- 4. Độ ổn định còn lại, % ≥ 75 ≥ 75 12:2011 TCVN 8860- 5.
Độ rỗng cốt liệu (tương ứng ≥ 17 với độ rỗng dư 4%), % - Cỡ hạt danh định lớn nhất 9,5 ≥ 15 mm TCVN 8860- 10:2011 - Cỡ hạt danh định lớn nhất 12,5 ≥ 14 mm - Cỡ hạt danh định lớn nhất 19 ≥ 13 mm 7(*). Độ sâu vệt hằn bánh xe (phương pháp HWTD-Hamburg AASHTO T Wheel Tracking Device), 10000 ≤ 12,5 324-04 chu kỳ, áp lực 0,70 MPa, nhiệt độ 500 C, mm (*): Chỉ kiểm tra đối với các công trình đặc biệt theo yêu cầu của Chủ đầu tư. Có thể đầm tạo mẫu Các tính chất của hỗn hợp bê tông nhựa và bê tông nhựa đã đầm nén làm mặt đường bao gồm tính chất liên quan đến đặc tính thể tích và tính chất cơ học Đặc tính thể tích của bê tông asphalt bao gồm các chỉ tiêu: độ rỗng dư (VIM), độ rỗng cốt liệu (VMA), độ rỗng lấp đầy nhựa (VFA). Các giá trị này phải nằm trong giới hạn quy định đảm bảo lớp bê tông asphalt có khả năng chống biến dạng, chống chảy bitum dưới tác động của tải trọng xe và yếu tố 8 nhiệt độ môi trường, hạn chế sự xâm nhập của nước vào hỗn hợp trong quá trình khai thác.
Để xác định các chỉ tiêu đặc tính thể tích của bê tông asphalt, cần thiết phải thí nghiệm và tính toán các chỉ tiêu sau: Các chỉ tiêu liên quan đến tỷ trọng của vật liệu thành phần: tỷ trọng của cốt liệu thô (đá dăm), tỷ trọng của cốt liệu mịn (cát thiên nhiên, cát xay từ đá), tỷ trọng của bitum, tỷ trọng của bột khoáng.