CHƯƠNG I KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RAU, HOA VÀ THỊ TRƯỜNG CÁC SẢN PHẨM NÀY 1. Sản xuất và thương mại rau, hoa trên thế giới. Sản xuất và thương mại rau: Theo số liệu FAO [9], năm 2001 diện tích trồng rau toàn thế giới là 42. Với năng suất bình quân 160 tạ/ha, sản lượng đạt 681 triệu tấn (năm 1980: 375 triệu và 1990: 441 triêu tấn) đã duy trì mức tăng 5%/năm trong suốt 2 thập kỷ qua.
Đây là mức tăng sản lượng cao trong sản xuất nông nghiệp của thế giới. Với khối lượng này bình quân đâu người đạt trung bình hơn 100 kg rau xanh/năm. Các nước châu á có khối lượng rau sản xuất lớn hơn cả (năm 2001 đạt 4320 triệu tấn) và mức tiêu thụ rau bình quân đầu người ở nhiều nước khá cao: Trung Quéc:180 kg, Han Quéc: 160 kg, Nhat Ban: 114 kg/ngudi/nam. Toàn thế giới trồng gần 100 loại rau, được phân thành 5 nhóm theo bộ phận sử dụng: rau ăn lá, ăn quả, ăn củ, gia vị và các loại rau khác (ăn hoa, thân, bắp.
Có khoảng 15 loại rau chủ lực được trồng trên 60% diện tích hàng năm là cà chua (Lycopersicon esculentum Miller), dưa hấu (Citrullus vulgaris), hành tây (Allium cepa L.), cải bắp (Brassica olenraceac var.capitata), cai bao (B.pekinensis Rupr), Gt cay va ngot (capsicum annum), dưa chuột (cucumis sativus L.), ca rét (daucus carota) cai cu (Raphanus tricolos), toi (Allium sativum L.), ca tim (Solanum melogena L.), dau rau (ho Fabaceae), bau bi (ho Cucurbitaceae) x lach (lactuca sativa L. Xu thé chung những năm gần đây, khối lượng rau ăn quả, rau gia vi gia tăng do nhu cầu tăng mạnh. Lý do chính là rau ăn quả ngoài giá trị dinh dưỡng cao lại rất đa dụng, vừa sử dụng cho ăn tươi, nấu nướng vừa cho chế biến công nghiệp; rau gia vị còn là nguồn được liệu tốt để tăng sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ. Xu hướng này bất nguồn từ những nước có tiêu thụ rau lớn, nay muốn giảm khối lượng, tăng chất lượng, lại là nơi có nguồn sinh vật biển đồi đào như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.
thì các loại gia vị như ới cay, tỏi, hành, tía tô. được xem như một bộ phận không thể thiếu của khẩu phần thức ăn khoa học và chất lượng. Sản xuất rau là một trong những ngành được công nghiệp hoá sớm nhất, toàn điện nhất từ khâu canh tác, sản xuất giống đến các công đoạn sau thu hoạch. Năng suất trung bình các loại rau trong 3 năm (2000-2002) gần đây ở mức 164 tạ/ha.
Mức tăng năng suất khá chậm (trung bình 0,7-0,8%/năm trong thập kỷ từ 1990-2000) do các nước sản xuất rau lớn đang chuyển đổi cơ cấu chủng loại từ rau có năng suất cao (rau ăn lá, än củ) sang rau chất lượng cao (rau gia vị, ăn bấp, ăn thân) Mặc dù vậy, ở những nước công nghiệp phát triển có đầu tư lớn, năng suất rau rất cao. Cà chua, đưa chuột trồng trong nhà kính có sưởi ấm mùa đông đạt 30-40 kg/m? (300- 400 tấn/ha) là năng suất kỷ lục với các cây trồng nông nghiệp hiện nay. Các nước nhiệt đới châu á, châu Phi đều có chương trình sản xuất rau trái vụ. Các nghiên cứu, chủ yếu là giống, công nghệ canh tác, công nghệ sau thu hoạch, kinh tế - thị trường đều tập trung vào các xu hướng sẵn xuất trên đây.
Dưới đây xin tóm lược tình hình sản xuất và các hướng nghiên cứu với các cây rau, hoa là đối tượng nghiên cứu của đề tài. Cây cà chua: Theo số liệu của FAO (2002), diện tích trồng cà chua trên thế giới năm 2001 đạt xấp xi 3,6 triệu hecta, sản lượng đạt 98,62 triệu tấn, giảm 2,4% so với năm cao nhất (1999) nhưng vẫn cao hơn những năm khác.