Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. THAY ĐỔI SINH LÝ VỀ HUYẾT ĐỘNG Ở PHỤ NỮ CÓ THAI Những thay đổi về sinh lý về huyết động của người phụ nữ mang thai có ảnh hưởng đến tất cả các cơ quan trong cơ thể. Về phương diện huyết học, có sự khác biệt lớn giữa người phụ nữ có thai (PNCT) và người phụ nữ không có thai (PNKCT) cả về thành phần huyết tương và tế bào máu đều có những thay đổi căn bản [8]. Các thay đổi về huyết học được biểu hiện bằng sự thay đổi thể tích máu lưu hành và sự thay đổi các thành phần tế bào máu diễn ra ở phụ nữ có thai bình thường.
Thay đổi về thể tích máu Các nghiên cứu trong những năm gần đây đều cho thấy có sự tăng đáng kể thể tích máu ở người PNCT, các tác giả đều chỉ ra rằng tổng thể tích máu tăng lên 40%-50%. Thể tích máu tăng đạt tối đa ở cuối quý 3 của thai kỳ và giữ nguyên ở mức đó trong một vài tuần trước sinh [8],[45] Quá trình tăng thể tích máu bắt đầu ngay từ quý đầu của quá trình mang thai, nhưng lúc đầu chỉ tăng rất ít trong khoảng 20 tuần đầu. Quá trình này diễn ra nhanh hơn ở quý 2 của thai kỳ và tiếp tục tăng cho tới vài tuần trước sinh, từ đó tổng lượng thể tích máu thường được duy trì ổn định trong khoảng 6-8 tuần trước khi sinh [8]. Sự tăng thể tích huyết tương và thể tích hồng cầu (HC) làm cho thể tích máu lưu hành tăng khoảng 1300 ml, nhưng do thể tích huyết tương tăng sớm hơn và nhiều hơn còn thể tích HC tăng muộn và ít hơn dẫn đến hiện tượng làm giảm độ nhớt máu tạo nên tình trạng được diễn tả như là thiếu máu do pha loãng máu ở thời kỳ có thai.
Sự thay đổi này làm cho tỷ lệ hemoglobin 4 (Hb) giảm xuống còn khoảng 1-2g/100ml máu được thấy cả ở những phụ nữ có thai bình thường có dinh dưỡng đầy đủ và được bổ sung sắt, acid folic hằng ngày đầy đủ. Vì vậy, một số tác giả gọi đó là tình trạng thiếu máu sinh lý ở phụ nữ có thai [8], sự giảm độ nhớt của máu mẹ và tạo điều kiện cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho thai nhi bằng cách mở rộng khối lượng hồng cầu [76]. Sự thay đổi đáng kể trong huyết tương và thể tích HC đòi hỏi sự tăng đồng thời trong cơ chế tạo máu. Trong một thời gian tương đối ngắn, tuỷ xương hoạt động phải tăng được khoảng 30% khối lượng HC lưu hành và một mức đáng kể thể tích bạch cầu, tiểu cầu trong tuần hoàn, sau đó duy trì được mức tăng khối lượng các tế bào máu đó cho tới vài tuần trước khi sinh.
Quá trình tăng như vậy có kết hợp với sự tăng sản lan tỏa của hệ thống tạo máu. Xét nghiệm tủy xương trên những phụ nữ có thai bình thường cho thấy có sự tăng đồng nhất và lan toả của các nguyên bào tạo hồng cầu trong tủy xương cũng như tăng hoạt động của các thành phần tuỷ xương tạo tế bào máu. Kết quả quan trọng của những thay đổi đó là đảm bảo cho nồng độ Hb bình thường là 12-13 g/dl máu [76]. Thay đổi các thành phần tế bào máu Trong thời kỳ mang thai, sự thay đổi đáng kể về nồng độ và thể tích toàn phần của hồng cầu đóng vai trò hết sức quan trọng đối với thiếu máu.
Tuy vậy vẫn còn những thay đổi khác của các thành phần máu cũng đóng vai trò quan trọng đáng kể. Số lượng bạch cầu thường tăng mặc dù mức độ tăng rất khác nhau, số lượng bạch cầu bình thường trong thời kỳ có thai từ 10.000 tb/ml máu, số lượng bạch cầu thường tăng rất cao khi sinh và sau sinh. Đối với tiểu cầu thường ít thấy có thay đổi nào về nồng độ, cấu trúc hay chức năng ở người phụ nữ mang thai bình thường [8]. Thay đổi các hằng số về huyết học của PNCT so với PNKCT [7] Phụ nữ Phụ nữ có thai Các chỉ số không có 3 tháng 3 tháng 3 tháng Sau đẻ huyết học thai đầu giữa cuối Thể tích (Tt) máu toàn 67ml/kg ↑ ↑↑ +34%V ↓ phần Tt huyết 43ml/kg ↑ ↑ +40%V tương Tt HC 24ml/kg ↑ +24%V Số lượng HC 4,5 ± 0,2 4 3,7 ↓ 5 (triệu/mm³) Số lượng 10.800/mm³ ↑ bạch cầu mm³ mm³ Hb 14g/dl ↓ ↓ 11,6g/dl Hematocrit 40% 36% 34% 33% 39% 1.
THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ CÓ THAI 1. Định nghĩa thiếu máu Thiếu máu là sự giảm số lượng hồng cầu (SLHC) hoặc giảm nồng độ hemoglobin (Hb) ở máu ngoại vi dẫn đến máu thiếu oxy để cung cấp cho các mô tế bào trong cơ thể, Thiếu máu khi có 2 trong 3 xét nghiệm sau đây giảm dưới mức bình thường [7]: - Hematocrit (Hct) - Nồng độ Hb 6 - Số lượng HC Thiếu máu là tình trạng hemoglobin lưu hành thấp, trong đó nồng độ giảm xuống dưới ngưỡng hai độ lệch chuẩn dưới mức trung bình của một nhóm dân số khỏe mạnh ở cùng độ tuổi, giới tính và giai đoạn mang thai gây giảm khả năng vận chuyển oxy ở phụ nữ mang thai [40]. Khả năng vận chuyển oxy giảm này dẫn đến giảm lượng oxy cung cấp cho cả mẹ và thai nhi đang phát triển. Ở các nước đang phát triển, nó là một nguyên nhân đáng lo ngại vì ngoài nhiều tác dụng phụ khác đối với người mẹ và thai nhi, nó góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong của người mẹ [54].
Định nghĩa thiếu máu ở PNCT Định nghĩa thiếu máu ở PNCT rất khó chính xác do một số yếu tố như: giá trị bình thường của Hb khác nhau giữa nam và nữ, giữa phụ nữ có thai và không có thai. Các yếu tố về mức sống, tuổi, tình trạng sinh lý, việc dùng thuốc, hoạt động của thai phụ trước khi xét nghiệm. đều có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả xét nghiệm. Phụ nữ mang thai có thể thiếu máu sinh lý do sự tăng không đồng đều giữa thể tích huyết tương và khối lượng HC làm cho Hb giảm 1-2g/dl chủ yếu ở 3 tháng giữa thai kỳ.
Tình trạng này không gây bệnh lý nhưng có thể làm nặng thêm tình trạng thiếu máu sẵn có của bệnh nhân. Hiện nay trên Thế giới người ta thừa nhận định nghĩa về thiếu máu ở phụ nữ có thai của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khi Hb của PNCT <110g/l [90]. Chẩn đoán thiếu máu ở phụ nữ có thai [7],[8]. Thiếu máu nặng - Thiếu máu cấp tính: Khối lượng tuần hoàn giảm cấp tính dẫn đến giảm oxy máu, ảnh hưởng đến các mô tế bào trong cơ thể.
* Biểu hiện lâm sàng như sau: 7 + Da xanh, niêm mạc nhợt + Lòng bàn tay trắng bệch + Tim: nhịp tim nhanh, có thể có tiếng thổi tâm thu thiếu máu. + Huyết áp động mạch giảm: Nếu mất từ trên 1 lít máu thì huyết áp động mạch giảm dưới mức bình thường Nếu mất từ trên 1,5 lít sẽ xảy ra trụy tim mạch, huyết áp động mạch không đo được. + Hô hấp: khó thở, nhịp thở nhanh. + Thần kinh: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, thoáng ngất hoặc ngất + Cơ và khớp: mỏi các cơ đi lại khó khan + Mạch: >120 lần/phút, HA tối đa: < 80 mmHg.
- Xét nghiệm Cận lâm sàng (CLS): SLHC: <2,5 tr/mm 3, Hb < 70 g/L, Hct: < 30%. Thiếu máu nhẹ và trung bình: Dấu hiệu lâm sàng nghèo nàn, chủ yếu dựa vào xét nghiệm. Chẩn đoán thiếu máu trung bình: - Lâm sàng: Đau đầu, chóng mặt, hoa mắt. Mạch: 100-120 lần/phút, HA tối đa giảm: 90-100 mmHg - CLS: SLHC: 2,5-3,5 tr/mm3, Hb: 70-90 g/L, Hct: 30-35%.
Chẩn đoán thiếu máu nhẹ: - Lâm sàng: Triệu chứng thường nghèo nàn Mạch: 80-90 lần/phút, HA tối đa: > 100 mmHg - CLS: SLHC: > 3,5 triệu/mm3, Hb > 90g/L, Hematocrit >35%. Thiếu máu mãn tính: + Da xanh xảy ra từ từ. + Niêm mạc môi, mắt, dưới lưỡi nhợt nhạt, lưỡi trơn hay nứt nẻ. 8 + Móng tay khô mất bóng, có khía dọc và dễ gãy, có thể có móng tay khum.
+ Tim: nhịp tim nhanh, có thể có tiếng thổi tâm thu thiếu máu. Nếu thiếu máu lâu ngày và nặng sẽ dẫn đến suy tim. + Hô hấp: khó thở khi gắng sức, nhịp thở nhanh + Thần kinh: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, thoáng ngất và ngất, thường có buồn bã liên miên do thiếu oxy não. + Cơ xương khớp: mệt mỏi khi đi lại làm việc.
+ Rối loạn tiêu hoá: ăn kém, ỉa lỏng hoặc táo bón, gầy, sút cân. Phân loại thiếu máu ở phụ nữ có thai Dựa vào phân loại của WHO [90]. - Thiếu máu nhẹ: Hb: >90 g/l - <110 g/l - Thiếu máu trung bình: Hb: 70- 90 g/l - Thiếu máu nặng: Hb: <70 g/1 1. Đánh giá thiếu máu ở phụ nữ có thai Nồng độ hemoglobin (Hb) trong máu thường được sử dụng để đánh giá tình trạng thiếu máu trên từng cá thể.
Tổ chức Y Tế Thế giới đã đưa ra ngưỡng đánh giá thiếu máu như sau: Bảng 1. Ngưỡng Hb để phân loại thiếu máu Thiếu máu, Hb (g/L) Thiếu Thiếu máu Thiếu máu Thiếu máu Đối tượng máu nhẹ vừa nặng Trẻ em dưới 5 tuổi < 110,0 100,0-100,9 70,0-90,9 < 70,0 Phụ nữ không có thai < 120,0 100,0-110,9 70,0-90,9 < 70,0 Phụ nữ có thai < 110,0 100,0-110,9 70,0-90,9 < 70,0 9 Thiếu máu ở phụ nữ có thai thường được chẩn đoán khi nồng độ hemoglobin trong máu là dưới 110g/L [35],[90]. Tại cộng đồng, thiếu máu được phân loại dựa vào tỷ lệ thiếu máu. Phân loại thiếu máu mức ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Tỷ lệ thiếu máu % Thiếu máu nặng ≥40 Thiếu máu trung bình 20,0-39,9 Thiếu máu nhẹ 5,0-19,9 Bình thường ≤4,9 1.
Nguyên nhân thiếu máu. Về mặt dịch tễ học, thiếu máu ở PNCT thường là do thiếu sắt và acid folic, đó là các thể thiếu vi chất dinh dưỡng phổ biến trên thế giới hiện nay [16],[12]. Trong đó, thiếu máu do thiếu sắt là phổ biến nhất, đặc biệt là ở các nước phát triển hơn, nơi mà các rối loạn sản xuất thiếu máu khác như sốt rét hoặc bệnh rối loạn hemoglobin ít đáng kể hơn [57],[52],[42]. Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ liên quan đến thiếu máu do thiếu sắt đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu bao gồm sinh nhiều con, ba tháng cuối của thai kỳ, trình độ học vấn thấp và tình trạng kinh tế thấp [81].
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bổ sung sắt của bệnh nhân cũng là một yếu tố làm tăng nguy cơ thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ có thai, bao gồm không sử dụng dịch vụ khám thai, trình độ học vấn thấp, không ở gần cơ sở y tế, bà mẹ đơn thân và trẻ vị thành niên [63],[43].