Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Triệu chứng lâm sàng - Trễ kinh: nguyên nhân thường là do có thai, tuy nhiên cũng có nhiều lý do khác có thể dẫn đến tình trạng này. Trễ kinh là dấu hiệu tương đối tin cậy để chẩn đoán ở những phụ nữ có tiền sử kinh nguyệt đều đặn. - Thay đổi: ở vú nhiều phụ nữ nhận biết được sự căng lên và thay đổi kích thước của vú khá sớm khi có thai.
Vú lớn lên, các tĩnh mạch dưới da nổi nhiều, quầng vú thẫm màu, các hạt Montgomery nổi rõ. - Bụng lớn: Từ sau tháng thứ ba là đã có thể sờ thấy tử cung qua thành bụng. Tử cung ngày càng lớn và bụng ngày càng to thêm. - Buồn nôn và nôn, đặc biệt vào các buổi sáng, có thể kèm theo táo bón hoặc tăng tiết nước bọt.
Mức độ nặng nhẹ của tình trạng buồn nôn và nôn rất khác nhau, có người không có biểu hiện gì trong khi đó có người nôn hết cả thức ăn và nước uống. Cận lâm sàng - Test thai (Xét nghiệm định tính): xét nghiệm nước tiểu để định tính, cần khoảng 3-5 giọt nước tiểu để xác định kết quả (xuất hiện sau 3-5 phút). Nếu có 1 vạch kết luận là âm tính, nếu có 2 vạch kết luận là dương tính (có thai) Những xét nghiệm hiện nay thường có độ nhạy rất cao, có thể phát hiện được với nồng độ hCG thấp (5mUI). - Định lượng β hCG: xét nghiệm máu để định lượng có thể phát hiện hCG ở nồng độ 2mUI/ml, khoảng 8 ngày sau khi rụng trứng.
- Siêu âm: siêu âm là kỹ thuật được sử dụng phổ biến hiện nay mục đích của siêu âm là xác định tuổi thai và vị trí của thai. Siêu âm đầu dò âm đạo thường chẩn đoán thai sớm khi 5 tuần tuổi (1 tuần sau khi trễ kinh). Đa số các trường 4 hợp, siêu âm bụng có thể xác định được tình trạng có thai trong tử cung từ khi thai được 6 tuần tuổi. Với siêu âm ta có thể thấy: Túi thai từ tuần lễ thứ 5.
Cấu trúc phôi từ tuần lễ thứ 6-7. Tim phôi từ tuần lễ thứ 7-8. Hoạt động thai từ tuần lễ thứ 9. Đặc điểm và các yếu tố liên quan đến thai phụ vị thành niên 1.
Đặc điểm của thai phụ vị thành niên Tuổi vị thành niên là thời kỳ phát triển đặc biệt-thời kỳ xảy ra đồng thời hàng loạt những biến đổi nhanh chóng cả về cơ thể cũng như sự biến đổi tâm lý và các mối quan hệ xã hội. Tại Việt nam tuổi vị thành niên là từ 10 đến 18 tuổi và được chia ra 3 giai đoạn: [6] với những thay đổi tâm sinh lý khác nhau: (1) Vị thành niên sớm: từ 10 đến 13 tuổi. bắt đầu ý thức mình không còn là trẻ con, muốn được độc lập. Muốn được tôn trọng, được đối xử bình đẳng như người lớn.
Chú trọng đến các mối quan hệ bạn bè. Quan tâm đến hình thức bên ngoài và những thay đổi của cơ thể. Tò mò, thích khám phá, thử nghiệm. Bắt đầu phát triển tư duy trừu tượng.
Có những hành vi mang tính thử nghiệm, bốc đồng. (2) Vị thành niên giữa: từ 14 đến 16 tuổi. Tiếp tục quan tâm nhiều hơn đến hình dáng cơ thể. Tỏ ra độc lập hơn, thích tự mình quyết định, có xu hướng tách ra khỏi sự kiểm soát của gia đình.
Phát triển mạnh cá tính, sở thích cá nhân. Chịu ảnh hưởng nhiều của bạn bè đồng trang lứa. Quan tâm đến bạn khác giới, dễ ngộ nhận tình bạn khác giới với tình yêu. Tiếp tục phát triển tư duy trừu tượng.
Phát triển kỹ năng phân tích, bắt đầu nhận biết hậu quả của hành vi. Có xu hướng muốn thử thách các quy định, các giới hạn mà gia đình hay xã hội đặt ra. (3) Vị thành niên muộn: từ 17 đến 18 tuổi Khẳng định sự độc lập và tạo dựng hình ảnh bản thân tương đối ổn định. Khả năng đánh giá và giải quyết vấn đề tốt hơn.
Cách suy nghĩ, nhận xét và ứng xử chín chắn hơn. Ảnh hưởng của nhóm bạn bè giảm dần, quay lại chú trọng mối quan hệ gia đình. Chú trọng tới mối quan hệ riêng tư, tin cậy giữa 2 người hơn quan hệ theo nhóm. Định hướng cuộc sống, nghề 5 nghiệp rõ ràng hơn.
Biết phân biệt tình bạn và tình yêu, cách nhìn nhận tình yêu mang tính thực tế hơn, có xu hướng muốn thử nghiệm tình dục. Trẻ vị thành niên mang thai có liên quan rất nhiều đến các vấn đề xã hội như trình độ học vấn, nghề nghiệp, môi trường xã hội chung quanh, cũng như quan niệm là con gái phải lấy chồng sớm. Ngoài ra 1 vấn đề quan trọng cần được quan tâm đó là đa số trẻ vị thành niên mang thai là ngoài ý muốn. Độ tuổi này do sự “tò mò” về tình dục và các em có thể quan hệ tình dục sớm.
Tuy nhiên, vì nhiều lý do như quan điểm của xã hội về quan hệ tình dục ở lứa tuổi này hoặc do sự e ngại khi phải tìm hiểu các vấn đề ngừa thai. Cho nên các em lại không hiểu biết được các biện pháp tránh thai hoặc hiểu biết không rõ ràng, điều này làm cho tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn tăng cao. Trong những trường hợp này, vai trò của gia đình còn khá mờ nhạt trong việc hướng dẫn các em. Ở Việt Nam các nghiên cứu cũng cho thấy độ tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở trẻ vị thành niên có xu hướng ngày càng sớm.
Tuy nhiên, kiến thức về các biện pháp tránh thai vẫn còn rất hạn chế, và chỉ có khoảng 20,7% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc – UNFPA [28], mang thai ở tuổi vị thành niên không chỉ đơn thuần là một vấn đề về sức khỏe sinh sản vì mang thai ở thời điểm này làm tăng nguy cơ trong thai kỳ rất nhiều so với lứa tuổi khác như về cân nặng khi sinh thấp, chuyển dạ sớm, thiếu máu và tiền sản giật có liên quan đến tuổi sinh học, được quan sát thấy ở trẻ vị thành niên ngay cả sau khi kiểm soát các yếu tố nguy cơ khác (chăm sóc trước khi mang thai, chăm sóc tiền sản). Mặt khác, mang thai ở tuổi vị thành niên còn làm mất đi cơ hội của các em ở các em như học hành, đánh mất và hạn chế sự lựa chọn của các em trong cuộc sống. điều này sẽ làm các em sống và phát triển trong môi trường không thuận lợi.
Rõ ràng mang mang thai ở tuổi vị thành niên là một vấn đề cần giải quyết trong quá trình phát triển của xã hội. 6 Có thai sớm sẽ giới hạn cơ hội học tập và làm việc của phụ nữ trẻ, điều này có khuynh hướng làm cho họ và con cái của họ sẽ nghèo. Bên cạnh đó là gánh nặng trực tiếp mà xã hội phải gánh chịu: gia tăng chăm sóc y tế, trợ cấp nghèo khó và gián tiếp tạo ra một lực lượng lao động có trình độ thấp. Tại Việt Nam, trẻ vị thành niên nhận được các thông tin tình dục chủ yếu qua truyền hình và internet còn từ gia đình và nhà trường rất ít.
Điều này làm cho trẻ vị thành niên hoạt động tình dục khá sớm trong khi kiến thức về ngừa thai hoặc là phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục không được cung cấp đầy đủ. Trước năm 1994 gần như không có nghiên cứu về vấn đề hoạt động tình dục trước hôn nhân trong các nghiên cứu về sức khỏe sinh sản. Cho đến nay ở Việt Nam các cuộc điều tra quy mô về khảo sát quan hệ tình dục tuổi vị thành niên chưa nhiều vì đây là vấn đề nhạy cảm khó khảo sát. Điều tra của Ủy ban dân số quốc gia kế hoạch hóa gia đình (1994) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 15% nam sinh viên và 2,5% nữ sinh viên đã từng quan hệ tình dục.
Một nghiên cứu tại 6 tỉnh tại ở Việt Nam ( Lai Châu, Quảng Ninh, Hà Tây, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Kiên Giang ) đã ghi nhận có 6% nam và 4% nữ có quan hệ tình dục lần đầu trước 18 tuổi. Tình hình thai phụ vị thành niên ở Thế giới và Việt Nam 1. Tình hình trên thế giới Theo số liệu của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) [28], hiện có khoảng hơn 500 triệu trẻ em gái đang sinh sống tại các nước đang phát triển. Trong số đó có hàng triệu trẻ em gái phải lập gia đình khi còn nhỏ tuổi; phải mang thai và sinh con khi các em chưa thực sự trưởng thành về mặt thể chất, tình cảm và chưa đủ trưởng thành về mặt xã hội để sẵn sàng làm mẹ.
Cụ thể, trên toàn cầu, cứ 3 nữ thanh niên trong độ tuổi từ 20-24 thì có 1 người (tương đương với khoảng 70 triệu người) kết hôn trước lần sinh nhật thứ 18. Nếu xu hướng hiện nay không được cải thiện, trong vòng một thập kỷ tới sẽ 7 có 142 triệu trẻ em gái kết hôn trước khi bước sang tuổi 18 (tính tới thời điểm năm 2020). Điều này có nghĩa là mỗi năm sẽ có 14,2 triệu trẻ em gái, hay mỗi ngày sẽ có 39 ngàn trẻ em gái kết hôn trước khi bước sang tuổi 18. Bên cạnh đó, hàng năm có khoảng 16 triệu em gái tuổi từ 15-19 sinh con và cứ 10 trẻ vị thành niên thuộc nhóm này thì có 9 trẻ vị thành niên đã lập gia đình.
Khu vực châu Phi thuộc tiểu vùng Sa mạc Sahara là nơi có có tỷ lệ sinh ở tuổi vị thành niên cao nhất với 120 trẻ/1.000 trẻ vị thành niên trong độ tuổi từ 13-19. Ở khu vực châu Mỹ La tinh và vùng Caribbean, tỷ lệ sinh con ở tuổi vị thành niên vẫn ở mức cao và chỉ mới bắt đầu giảm gần đây. Tương tự, số lượng bà mẹ sinh con ở tuổi vị thành niên tại các nước ở khu vực Đông Nam Á hiện vẫn rất cao. Đáng lưu tâm là các biến chứng khi mang thai và khi sinh tiếp tục là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong mẹ cho các em gái tuổi từ 15-19 ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình.
Tại Hoa Kỳ thống kê cho thấy rằng [53]: trong 10 em gái dưới 20 tuổi có 4 em mang thai.000 trẻ vị thành niên mang thai. Có khoảng 40% bà mẹ trẻ dưới 18 tuổi. Trong 10 bà mẹ dưới tuổi 18 chỉ có 4 người hoàn tất bậc trung học.