Chương 1 TỔNG QUAN 1. Khái niệm tật khúc xạ 1. Định nghĩa tật khúc xạ Mắt chính thị là mắt bình thường ở trạng thái nghỉ ngơi và không có điều tiết thì các tia sáng phản chiếu từ các vật ở xa sẽ được hội tụ trên võng mạc. Mắt chính thị (Nguồn: Visioncenter.org) Khi mắt bị tật khúc xạ thì một vật ở vô cực sẽ tạo thành hình ảnh trong mắt ở trước hoặc sau võng mạc.
Tật khúc xạ bao gồm: cận thị, viễn thị và loạn thị (10- 12). Cận thị Là mắt có công suất quang học quá cao so với độ dài trục nhãn cầu. Ở mắt cận thị không điều tiết, các tia sáng song song đi từ một vật ở xa được hội tụ ở phía trước võng mạc (10-12). Mắt cận thị (Nguồn: Visioncenter.org) 6 Viễn thị Mắt viễn thị ngược lại với mắt cận thị là mắt có trục nhãn cầu ngắn hơn bình thường và khi đó hình ảnh của vật nằm ở phía sau của võng mạc (10-12).
Mắt viễn thị (Nguồn: Visioncenter.org) Loạn thị Mắt loạn thị là mắt có các kinh tuyến khúc xạ không đều nhau, do đó ảnh của một điểm qua hệ quang học này không phải là một điểm mà là một đường thẳng (10-12). Mắt loạn thị (Nguồn: Visioncenter. Chẩn đoán tật khúc xạ Trên thực tế lâm sàng, người ta thường chẩn đoán tật khúc xạ dựa vào độ cầu tương đương SE (Spherical Equivalent). Công thức tính cầu tương đương SE như sau: Độ cầu tương đương (SE) = Độ khúc xạ cầu + ½ độ trụ 7 Theo lý thuyết, nếu phương pháp đo khúc xạ là tuyệt đối chính xác và mắt hoàn toàn không điều tiết, mắt chính thị là mắt có độ khúc xạ cầu tương đương bằng 0.
Thực tế người ta không lấy tiêu chuẩn SE bằng 0 làm tiêu chuẩn chẩn đoán tật khúc xạ bởi vì các phương pháp đo khúc xạ thường có sai số trong giới hạn cho phép. Do đó các nghiên cứu về tật khúc xạ thường lấy các tiêu chuẩn chẩn đoán như sau: mắt chính thị là mắt có SE nằm trong khoảng từ -0,50D đến +0,50D; cận thị là mắt có SE từ -0,50D trở lên; viễn thị là mắt có SE từ +0,50D trở lên và mắt loạn thị là mắt có độ trụ từ 0,75D trở lên (10-12). Phân loại tật khúc xạ Phân loại cận thị Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại cận thị, tuy nhiên về phương diện lâm sàng thường được phân loại cận thị thành các mức độ sau: cận thị nhẹ < -3,00D, cận thị trung bình từ -3,00D đến -6,00D, cận thị nặng > -6,00D (10-12). Phân loại viễn thị Dựa vào mức độ điều tiết viễn thị được phân loại như sau: viễn thị nhẹ ≤ +2,00D, viễn thị trung bình từ +2,25D đến + 5,00D, viễn thị nặng > +5,00D (10- 12).
Phân loại loạn thị Loạn thị được phân loại theo các mức độ như sau: loạn thị nhẹ < 1,00D, loạn thị trung bình từ 1,00D đến 2,00D, loạn thị nặng từ 2,25D đến 3,00D, loạn thị rất nặng > 3,00D (10-12). Nguyên nhân tật khúc xạ Nguyên nhân cận thị Nguyên nhân bẩm sinh: nguyên nhân của cận thị thông thường là do sự sai lạc phát triển xảy ra ở thời kỳ phôi thai và thời kỳ phát triển tích cực. Những rối loạn dẫn đến những bất thường của những thành phần cấu tạo khúc xạ nhãn cầu như: độ cong giác mạc, độ sâu tiền phòng. Di truyền đóng một vai trò cao và khá rõ nét trong cận thị bẩm sinh và cận thị nặng (1, 10-12).
Nguyên nhân môi trường: môi trường cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng 8 khúc xạ của mắt học sinh, sự gắng sức trong làm việc ở thị giác gần kéo dài. Đối với lứa tuổi học sinh, yếu tố trường học là một trong những nguyên nhân chính có nguy cơ dẫn đến tật khúc xạ. Các yếu tố trường học có thể kể đến là: - Nguyên nhân do ánh sáng: Thị lực phụ thuộc vào độ chiếu sáng, nếu tăng độ chiếu sáng thì khả năng phân biệt những vật nhỏ sẽ tăng. Do vậy, thiếu ánh sáng và chiếu sáng không hợp lý trong khi học sẽ gây mỏi điều tiết là một trong những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho tật khúc xạ phát sinh và phát triển (1, 10-12).
- Nguyên nhân do kích thước bàn ghế: Bàn ghế thiếu, kích thước không phù hợp với lứa tuổi học sinh, sắp xếp sai quy cách, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh học đường: bàn cao ghế thấp hoặc bàn thấp ghế cao (hiệu số bàn ghế sử dụng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh học đường) (1, 10-12). Ngoài môi trường tại trường học, môi trường tại gia đình cũng là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến tật khúc xạ của trẻ. Ngoài thời gian học tập tại trường, trẻ còn dành thời gian để học bài và làm bài tập tại nhà, do đó yếu tố ánh sáng tại nhà, kích thước bàn ghế khi trẻ học bài tại nhà cũng sẽ gây ảnh hưởng đến trẻ. Nếu điều kiện học tập, sinh hoạt tại nhà không tốt cũng sẽ là yếu tố gây nên tật khúc xạ cho trẻ.
Một số yếu tố bất lợi khác: Một số yếu tố bất lợi khác như sách vở, chữ viết. chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh, nhìn gần liên tục, đọc sách truyện quá nhiều, nhất là sách truyện có cỡ chữ nhỏ, giấy đen. Do chế độ học tập quá căng thẳng. Gần đây nguyên nhân do một số trò chơi giải trí như điện tử, phim hoạt hình, tiktok,… ngày càng nhiều và chiếm nhiều thời gian, mắt phải điều tiết nhiều, là điều kiện có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của tật khúc xạ (1, 10, 11, 13).
Nguyên nhân viễn thị Viễn thị sinh lý: viễn thị gây ra bởi sự mất cân bằng hài hòa giữa trục trước sau của nhãn cầu và lực quang học của mắt khiến cho ảnh hội tụ sau võng mạc. Viễn thị được cho là sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và các biến đổi sinh lý khác của mắt. Yếu tố môi trường ít gây tác động lên viễn thị hơn so với cận thị (1). Viễn thị bệnh lý: viễn thị bệnh lý gây ra bởi sự phát triển bất thường diễn ra trong quá trình bào thai hoặc sơ sinh, do các biến đổi ở giác mạc và thủy tinh thể, 9 do viêm hoặc u tăng sinh ở hắc võng mạc hoặc hốc mắt, hoặc do nguyên nhân thần kinh hoặc hóa học.
Viễn thị bệnh lý có thể liên quan đến các bệnh lý nặng ở mắt hoặc toàn thân (1, 10-12). Nguyên nhân loạn thị Do mặt trước giác mạc: đây là nguyên nhân thông thường nhất gây ra loạn thị. Do sự khác biệt về chiết suất giữa các môi trường nên một sự thay đổi bán kính độ cong không lớn trên giác mạc cũng có thể gây ra sự khác biệt lớn về mặt công suất giữa các kinh tuyến và từ đó tạo ra loạn thị (1, 10-12). Do mặt sau giác mạc: một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng mặt sau của giác mạc cũng đóng góp vào việc tạo nên loạn thị (1, 10-12).
Do thủy tinh thể: thủy tinh thể cũng có thể gây ra loạn thị. Loạn thị của thủy tinh thể thường là loạn thị nghịch, loạn thị này sẽ phối hợp với loạn thị thuận của giác mạc khiến mắt thành không loạn thị và đây là trường hợp của đa số các mắt thông thường. Việc thủy tinh thể bị lệch hoặc nghiêng cũng tạo ra loạn thị (1, 10- 12). Thực trạng tật khúc xạ học đường 1.
Tình hình tật khúc xạ học đường trên thế giới Tật khúc xạ là vấn đề nhãn khoa phổ biến trên toàn thế giới, trong đó phổ biến nhất là tật cận thị. Tổ chức Y tế thế giới ước tính trên thế giới hiện nay có ít nhất 220 triệu người bị tật khúc xạ. Gánh nặng bệnh tật liên quan đến cận thị dự kiến tăng lên 4,8 tỉ người (50% dân số thế giới) và ước tính khoảng 1 tỷ người bị cận thị nặng (khoảng 10% dân số thế giới) vào năm 2050 (14). Trong những năm qua, nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả ở khắp các Châu lục đã xác định tật khúc xạ đang gia tăng nhanh chóng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt Châu Á đang là khu vực có tỉ lệ tật khúc xạ cao nhất (4, 15).
Trong ba thập kỷ vừa qua, tỷ lệ học sinh bị cận thị tại Mỹ tăng từ 25% đến 41% và từ 70% đến 90% ở các nước châu Á (16). Tỉ lệ cận thị nặng (>6D), cũng tăng cao (17). Các nghiên cứu gần đây trên thế giới đều cho thấy, tỷ lệ mắc tật khúc xạ học đường của trẻ ngày càng tăng cao và đang là một vấn đề sức khỏe quan trọng ở nhiều quốc gia. Tại Trung Quốc, tác giả L Guo (2016) nghiên cứu cắt ngang tại 10 Quảng Châu cho thấy trong tổng số 3055 học sinh 6 đến 15 tuổi tham gia tham gia vào nghiên cứu này, tỷ lệ cận thị nói chung là 47,4%, tỷ lệ cận thị ở học sinh tăng cùng với sự phát triển của cấp học, tỷ lệ cận thị ở học sinh lớp 1 chỉ là 0,2%, tăng lên 38,8% ở học sinh lớp 3, 46,2% ở học sinh lớp 5 và tỷ lệ này cao nhất (68,4%) ở học sinh lớp 9 (18).
Tại Mỹ, tác giả Morgan và cộng sự (2008) thực hiện nghiên cứu cắt ngang, đã khám 14.075 trẻ em từ tuổi nhà trẻ đến học sinh lớp 4 của 70 trường trong 5 bang phía Tây Nam nước Mỹ thấy tỉ lệ cận thị là 4,5% (19) đến năm 2018 trong nghiên cứu của Christos Theophanous và cộng sự tại Southern California ghi nhận tỷ lệ tật cận thị của học sinh là là 41,9%, trong đó 14,8% ở trẻ 5 đến 7 tuổi (20). Theo nghiên cứu của tác giả Rohit Saxena và cộng sự tại một thành phố miền Bắc Ấn Độ, tỷ lệ trẻ từ 5-10 tuổi cận thị là 20,7% và trẻ từ 11-13 tuổi là 55% (21). Các nghiên cứu tại Úc cho thấy, tỷ lệ cận thị ở trẻ 6 tuổi là 1,4% và ở trẻ 12 tuổi là 11,9% (22). Tại khu vực châu Âu, tỷ lệ trẻ mắc cận thị tương đối thấp hơn các khu vực khác.
Điển hình như ở Ethiopia, tác giả Assefa W. Nghiên cứu của Sandra Jobke tại Đức năm 2008 cho thấy tỷ lệ cận thị ở trẻ em từ 7 - 11 tuổi chỉ là 5,5% (24). Nghiên cứu tại Bắc Ireland của O’Donoghue năm 2010 ghi nhận tỷ lệ cận thị trẻ em 6 - 7 tuổi ở Bắc Ireland là 2,8%, thấp hơn đáng kể so với nhóm tuổi 12 – 13 là 17,7% (25).