Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh mày đay mạn 1. Các yếu tố liên quan, căn nguyên và phân loại mày đay mạn 1. Một số yếu tố nhân khẩu và dịch tễ Tỷ lệ mắc Dữ liệu đầu tiên về tỷ lệ mày đay được báo cáo vào khoảng năm 1954.
Các tác giả Mỹ nhận thấy có 20% tổng dân số có ít nhất một đợt nổi mày đay trong suốt cuộc đời [36]. Tuy nhiên, dữ liệu công bố về tỷ lệ hiện nhiễm rất khác nhau. Năm 2004, nghiên cứu tại Tây Ban Nha phát hiện tỷ lệ hiện mắc mày đay mạn là 0,6% [37]. Nghiên cứu ở Đức năm 2010, tỷ lệ hiện mắc của tất cả các dạng mày đay là 8,8% [38].
Nghiên cứu tại Italia thấy tần suất mắc mày đay mạn hàng năm có xu hướng gia tăng, tỷ lệ mắc năm 2002 là 0,02% tỷ lệ mắc năm 2013 là 0,38%. Tỷ lệ mắc là 0,1 – 1,5/1000 người-năm [39]. Tuổi và giới Tỷ lệ mắc mày đay theo tuổi khác nhau giữa mày đay cấp và mày đay mạn. Mày đay mạn thường gặp ở người trưởng thành, tương đối hiếm gặp ở trẻ dưới 6 tháng, chỉ có một vài trường hợp báo cáo bệnh ở trẻ sơ sinh.
Nghiên cứu 4076 trẻ em từ 4 đến 13 tuổi ở Hàn Quốc năm 2015 thấy tỷ lệ mày đay cấp là 13,9% và chỉ có 1,8% bị mày đay mạn [40]. Mày đay mạn có xu hướng phổ biến hơn ở những người trong độ tuổi từ 30 đến 60 tuổi, gặp ở nữ nhiều hơn nam. Nghiên cứu tại Italy, trên 14959 BN mày đay mạn, tuổi trung bình là 46,43 ± 20,35 tuổi, BN nữ chiếm 68,12% [39]. Thời gian mắc mày đay mạn Ở mỗi bệnh nhân mày đay, thời gian tiến triển của triệu chứng ở các phân nhóm khác nhau thay đổi đáng kể.
Nghiên cứu khảo sát về thời gian nổi mày đay trong tổng dân số của Gaig báo cáo 50% BN mày đay mạn hết triệu luan an 4 chứng sau 3 tháng và 80% hết triệu chứng sau 12 tháng, song vẫn còn 11% BN vẫn phải chịu đựng các triệu chứng mày đay mạn sau 5 năm [37]. Hầu hết dữ liệu cho thấy nhiều bệnh nhân phải chịu đựng triệu chứng bệnh hơn một năm và một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân có thời gian biểu hiện triệu chứng kéo dài hơn. Căn nguyên Có nhiều nguyên nhân nội sinh và ngoại sinh có thể gây ra mày đay. Một số yếu tố nội sinh như căng thẳng thần kinh, stress, tình trạng tự phản ứng (autoreactivity) trong các rối loạn tự miễn dịch; các yếu tố ngoại sinh phổ biến kích thích khởi phát hay làm tăng nặng bệnh có thể là thuốc, thức ăn, nhiễm trùng [3],[41].
Mỗi yếu tố bệnh nguyên có một vai trò gây bệnh khác nhau và nguyên nhân gây mày đay cấp khác với nguyên nhân gây mày đay mạn [14], [41]. Thuốc Thuốc ít khi gây mày đay mạn mà thường gây ra phản ứng mày đay cấp và thường đưa đến các triệu chứng mày đay trong vòng 36 giờ sau khi dùng [42],[43]. Theo báo cáo của Ủy ban An toàn về Thuốc của Anh, trong khoảng 40 năm, tần số các thuốc được báo cáo có liên quan đến mày đay, theo thứ tự giảm dần, là nhóm các thuốc giảm đau và thuốc chống viêm không có steroid (NSAIDs), kháng sinh, vắc-xin và thuốc tim mạch, song không phân biệt rõ cơ chế gây nổi mề đay, có thể có cơ chế là dị ứng hoặc giả dị ứng (đặc biệt là với NSAIDs) [44]. Penicillin, cephalosporin, tetracyclines… là một số thuốc hay gây ra mày đay [44], [45].
Nhiễm trùng Nhiễm kí sinh trùng, vi khuẩn, virus đều cho thấy có mối liên quan có thể gây nổi mày đay cấp tính hoặc mạn tính [11],[12],[13],[15],[46]. Nhiễm kí sinh trùng được nhiều nghiên cứu báo cáo có liên quan đến mày đay mạn. Tỷ lệ nhiễm kí sinh trùng đường ruột trong mày đay mạn được báo cáo từ 39 nghiên cứu dao động từ 0 đến 75,4% (2/3 số nghiên cứu này báo cáo tỷ lệ nhiễm nhỏ hơn 10%) [47]. Bệnh nhân mày đay mạn thường được chẩn đoán với luan an 5 ấu trùng và có nguy cơ cao hơn đáng kể với giun đũa chó mèo (toxocariasis), giun tròn (Anisakis simplex) và Blastocystis hominis khi so sánh với những người thuộc nhóm chứng khỏe mạnh [47],[48].
Các ký sinh trùng và nhiễm trùng mạn tính khác có liên quan đến mày đay mạn đang được quan tâm nhiều là Blastocystis hominis và H. Nhiễm trùng do vi khuẩn trong các bệnh răng, hầu họng, đường hô hấp, tiết niệu và bàng quang thường hiếm khi gây mày đay mạn tính. Mày đay mạn do tự phản ứng trong các rối loạn tự miễn dịch Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận, khoảng 40% BN mày đay mạn có các yếu tố hoạt hóa tế bào mast lưu hành trong máu, đó có thể là kháng thể chống IgE hoặc chống thụ thể IgE (mày đay mạn tính tự miễn - autoimmune CU) [49],[9]. Tuy nhiên, đến 80% BN mày đay mạn do tự phản ứng (autoreactivity) không phát hiện được kháng thể chống FcεRI hoặc chống IgE khi làm các xét nghiệm Western blot hoặc ELISA.
Một số rối loạn tự miễn dịch có liên quan đến mày đay mạn, bao gồm bệnh tuyến giáp tự miễn và bệnh Celiac [50],[51],[52]. Mối liên hệ này và sự phối hợp với các bệnh tự miễn dịch khác, dẫn đến khái niệm mày đay mạn như một bệnh tự miễn có thể xảy ra ở một số bệnh nhân. Dù là nguyên nhân hay chỉ có vai trò nhất định trong cơ chế bệnh, cơ chế gây bệnh của các kháng thể kháng giáp trong mày đay mạn chưa được xác định rõ [50],[51],[52]. Khí hậu, vùng và chế độ ăn uống Các phản ứng mày đay và các dạng mày đay mạn tính khác nhau phổ biến trên toàn thế giới.
Bệnh mày đay đã được Hippocrates mô tả vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên và do đó nó không phải là bệnh của "lối sống hiện đại", dù có thể chịu tác động, ảnh hưởng. Đánh giá các tài liệu hiện có không thấy sự khác biệt rõ ràng nào giữa các khu vực về tỷ lệ phổ biến chung, hay các nhóm dân cư đặc biệt. Hơn nữa, những phân nhóm mày đay vật lý (có thể bị ảnh hưởng bởi khí hậu hoặc nhiệt độ) xuất hiện phổ biến ở tất cả các vùng, ví dụ như chứng mày đay lạnh có thể xẩy ra ở vùng nhiệt đới [9],[53]. luan an 6 Một số chất phụ gia thực phẩm được coi là nguồn gốc của các phản ứng phụ như hen, nổi mày đay và/hoặc phù mạch và chứng quá mẫn.
Bệnh nhân thường mô tả sự xuất hiện các triệu chứng dị ứng của họ với một vài loại thực phẩm thành phần liên quan đến Protein sữa bò, bơ lạc… Các phản ứng mày đay thường gặp cấp tính nhiều hơn là mạn tính và thường gặp ở trẻ em [54],[9],[53]. Tuy nhiên, phân tích các nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc và các phụ gia thực phẩm ở bệnh nhân mày đay mạn, các tác giả cho rằng phản ứng với chất phụ gia thực phẩm hiếm khi xảy ra [55],[3]. Chế độ ăn kiêng không có chất phụ gia dường như không có ích cho bệnh nhân mày đay mạn và không khuyến khích bệnh nhân cần phải tránh sử dụng các chất này. Căng thẳng tinh thần, stress và mày đay mạn Các yếu tố cảm xúc có thể gây nổi mày đay và rối loạn cảm xúc nghiêm trọng cũng có thể là hậu quả của bện.
Ở nhiều bệnh nhân, cả hai trạng thái này có thể xảy ra đồng thời. Ban đầu yếu tố căng thẳng không gây nổi mày đay, nhưng bệnh nhân bị nổi mày đay mạn dễ bị stress, ảnh hưởng mạnh bởi tần số và mức độ nghiêm trọng của các lần tái phát bệnh. Quản lý căng thẳng, stress có thể có lợi trong việc quản lý lâu dài BN mày đay mạn tính [56],[5]. Phân loại mày đay mạn Dựa vào căn nguyên và các yếu tố khởi phát bệnh, mày đay mạn được chia thành nhiều phân nhóm khác nhau.
Hai hoặc nhiều phân nhóm khác nhau của mày đay mạn có thể cùng tồn tại ở bất kỳ bệnh nhân nào. Các hướng dẫn quốc tế hiện nay, dựa trên việc có xác định được hay không yếu tố gây khởi phát bệnh, chia bệnh thành 2 nhóm chính là mày đay tự phát mạn tính (chronic spontaneous urticaria - CSU) và mày đay mạn tính có căn nguyên (chronic inducible urticaria - CIU) [1],[8], [57],[58]. Hướng dẫn của Mỹ phân thành nhóm mày đay mạn bị kích thích bởi các yếu tố vật lý, mày đay mạn có thể tìm ra nguyên nhân và mày đay mạn tính vô căn (chronic idiopathic urticaria - CIU)[58]. Các thuật ngữ CSU và CIU về cơ bản là đồng nghĩa trong hầu hết các trường hợp.
luan an 7 MÀY ĐAY MẠN TÍNH ( Chronic urticaria: CU) MÀY ĐAY MẠN TÍNH MÀY ĐAY MẠN TÍNH TỰ PHÁT CÓ CĂN NGUYÊN (Chronic spontaneous urticaria: CSU) (Chronic inducible urticaria: CIU) Không tìm thấy các yếu tố gây khởi Bệnh xuất hiện do các yếu tố phát cụ thể gây khởi phát cụ thể Biết nguyên Không VẬT LÝ KHÁC nhân - Lạnh biết - Tiếp xúc Bao gồm cả - Nóng nguyên - Mặt trời - Do nước bệnh tự - Áp lực miễn/tự viêm nhân - Cholinergic - Rung và nhiễm - Chứng da vẽ trùng nổi Biểu đồ 1. 1: Phân loại mày đay mạn theo EAACI/GA2 LEN/EDF/WAO [1] 1. Lâm sàng, chẩn đoán và đánh giá mức độ mày đay mạn 1. Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán Bệnh nhân mày đay mạn thường thấy ngứa là triệu chứng cơ năng đầu tiên.
Ngứa là dấu hiệu sớm, thường có ngứa ở nơi sắp sửa xuất hiện tổn thương [3],[8], [59]. Mức độ ngứa tùy theo bệnh nhân. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng 80% số bệnh nhân có ngứa mức độ trung bình, và ngứa nặng. Ngứa nhiều làm bệnh nhân rất khó chịu.
Triệu chứng ngứa ảnh hưởng lớn đến công việc, học tập và/hoặc giấc ngủ. làm giảm chất lượng cuộc sống người bệnh. Mức độ ngứa là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá mức độ bệnh, cũng như theo dõi đáp ứng điều trị bệnh mày đay mạn [3],[8], [59],[60]. Thương tổn cơ bản trong hầu hết các dạng mày đay mạn là các sẩn phù (nổi gờ trên mặt da), màu hồng tươi hay đỏ, kích thước to nhỏ khác nhau, đa hình luan an 8 thái, hình tròn hoặc gờ không đều, ranh giới rõ với vùng da lành [8],[60],[61].
Sẩn phù, dát đỏ xuất hiện nhanh, biến mất hoàn toàn trong vòng 1 đến vài giờ, tối đa không quá 24h. Sau khi các sẩn phù mất đi đa số các trường hợp không để lại dấu vết gì trên da. Nếu các thương tổn kéo dài hơn 24 giờ và những tổn thương có cảm giác đau nhức hoặc bỏng rát hoặc để lại vết thâm tím là gợi ý của một tiến trình viêm mạch.