CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Các khái niệm về tỷ giá hối đoái 1.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đã được quốc tế hóa mạnh mẽ, quan hệ về mua bán, trao đổi hành hóa dịch vụ và đầu tư giữa các nước hay các nhóm nước với nhau ngày càng được mở rộng. Theo đó, khi thực hiện mối quan hệ này đòi hỏi phải sử dụng đơn vị tiền tệ của một trong hai nước giao dịch với nhau hoặc có thể sử dụng đến đồng tiền thứ ba. Vì vây, đồng tiền giữa các quốc gia được chuyển hóa cho nhau.
Khi chuyển hóa, dựa vào mối tương quan tỷ lệ nào đó để thực hiện và xác định mức quy đổi, hay nói cách khác là phải dựa vào tỷ giá hối đoái. Thông thường tỷ giá hối đoái được biểu diễn thông qua tỷ lệ bao nhiêu đơn vị đồng tiền này (nhiều hơn một đơn vị) bằng một đơn vị đồng tiền của nước kia. Ví dụ: tỷ giá giữa Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ ngày 20/4/2012: 1 USD= 20. Đồng tiền để ở số lượng một đơn vị trong các tỷ lệ như những ví dụ trên gọi là đồng tiền định danh hay đồng tiền cơ sở.
Thực chất của tỷ giá hối đoái đó là quan hệ so sánh giữa đồng tiền các nước với nhau, hay nói cách khác: Tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng những đơn vị tiền tệ nước khác. Tùy vào từng cách phân loại tỷ giá, sẽ có nhiều cách định nghĩa khác nhau, ở Việt Nam, theo Khoản 10 Điều 3 Nghị định 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính Phủ về Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối có định nghĩa: “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng.3 Tỷ giá hối đoái thực Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và ngoài nước. Tỷ giá hối đoái thực tế là giá tương đối của hàng hóa ở hai nước. Tức là, tỷ giá hối đoái thực tế cho chúng ta biết tỷ lệ mà dựa vào đó hàng hóa của một nước được trao đổi với hàng hóa của nước khác.
Tùy giá trị thực có thể được xác lập trong mối quan hệ với một đối tác thương mại hoặc dựa trên trung bình cho tất cả các đối tác thương mại hoặc chính các quốc gia cạnh tranh. Trong trường hợp so sánh giữa hai nước, tỷ giá thực được gọi là Tỷ giá thực song phương (BRER); Trong trường hợp thứ hai, so sánh với hàng loạt các bạn hàng mà một quốc gia có quan hệ mậu dịch, được gọi là Tỷ giá thực đa phương (MEER), hay còn gọi là Tỷ giá thực hiệu lực (REER) và được tính toán trên cơ sở trung bình có trọng số.2 Các chế độ điều hành tỷ giá hối đoái Phân loại chế độ điều hành tỷ giá hối đoái gồm 3 nhóm chính: (1) Điều hành tỷ giá hối đoái cố định, (2) Điều hành tỷ giá hối đoái thả nổi tự do và (3) Điều hành tỷ giá hỗn hợp giữa cố định và thả nổi, 1.1 Điều hành tỷ giá hối đoái cố định Tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định được gọi là đồng cố định.
Tỷ giá hối đoái cố định là một lựa chọn chế độ tỷ giá ngược hoàn toàn với tỷ giá hối đoái thả nổi. Trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giá hối đoái hoặc được giữ không đổi hoặc chỉ cho phép dao động trong một phạm vi rất hẹp. Nếu một tỷ giá hối đoái bắt đầu dao động quá nhiều, các Chính phủ có thể can thiệp để duy trì tỷ giá hối đoái trong vòng giới hạn của phạm vi này.2 Điều hành tỷ giá hối đoái thả nổi tự do Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt, là một chế độ trong đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi được gọi là một đồng tiền thả nổi.
Trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tự do, tỷ giá sẽ được các lực thị trường ấn định mà không có sự can thiệp của Chính phủ.3 Điều hành tỷ giá hỗn hợp giữa cố định và thả nổi Chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa cố định và thả nổi là Chế độ tỷ giá thả nổi có sự can thiệp của Chính phủ tác động đến tỷ giá hối đoái phục vụ cho chiến lược chung của Quốc gia (Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lí). Chế độ này nó giống chế độ thả nổi tự do ở điểm các tỷ giá được cho phép dao động hàng ngày và không có các biên độ chính thức. Nhưng nó lại giống chế độ cố định ở điểm các Chính phủ có thể và đôi khi đã can thiệp để tránh đồng tiền nước họ không đi quá xa theo một hướng nào đó phù hợp với mục tiêu mà Quốc gia họ đã đề ra. Ở mỗi quốc gia khác nhau, xác định các vùng mục tiêu khác nhau và có mức độ điều tiết khác nhau phù hợp với những đặc điểm của từng Quốc gia.3 Tác động của tỉ giá đến các yếu tố 1.1 Cán cân thanh toán Thực tiễn cho thấy, sự biến động của tỉ giá hối đoái có quan hệ mật thiết với kết quả của nền kinh tế vĩ mô.
Đây là một biến số quan trọng ảnh hưởng tới sự cạnh tranh của hàng hóa ngoại thương và những biến số khác trong nền kinh tế. Tỷ giá hối đoái tác động đến cán cân thanh toán chủ yếu thông qua các yếu tố Tài khoản vãng lai và tài khoản vốn. Như vậy, muốn tạo môi trường đầu tư ổn định nhằm mục tiêu phát triển kinh tế đòi hỏi các quốc gia cần xây dựng và điều chỉnh một chính sách tỷ giá ổn định, hợp lý. Sự mất ổn định của tỷ giá hối đoái đồng nghĩa với sự gia tăng về mức độ rủi ro trong lĩnh vực đầu tư và gây tổn hại đến thu hút đầu tư nước ngoài.2 Lạm phát Khi xem xét tỷ giá hối đoái tác động như thế nào đến lạm phát, cần xem xét các biến động của đồng tiền ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát.
6 Ảnh hưởng của một đồng nội tệ yếu. Một đồng nội tệ yếu có thể kích thích nhu cầu của nước ngoài đối với sản phẩm của nước mình. Ảnh hưởng của một đồng nội tệ mạnh.Một đồng nội tệ mạnh có thể khuyến khích người tiêu dùng và các công ty của nước đó mua hàng hóa của các nước khác. Trường hợp này đã làm tăng cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài và buộc các nhà sản xuất nội địa không được tăng giá hàng hóa.
Tóm lại, một đồng nội tệ yếu có thể làm mức thất nghiệp giảm xuống nhưng lại đẩy tỷ lệ lạm phát cao hơn, trong khi một đồng nội tệ mạnh có thể làm giảm lạm phát nhưng lại tạo thất nghiệp cao hơn. Giá trị lý tưởng của một đồng tiền tùy thuộc vào quan điểm của nước đó và của các quan chức có liên quan đến những quyết định này. Một đồng tiền mạnh hay yếu chỉ là một trong nhiều yếu tố tác động đến các điều kiện kinh tế của một nước.3 Giá chứng khoán Tác động của tỷ giá đến giá trái phiếu. Do các dao động trong giá đô la ảnh hưởng đến lãi suất, nó cũng ảnh hưởng đến giá trái phiếu.
Nếu các điều kiện khác bằng nhau, dự kiến một đồng tiền yếu rất có thể làm tăng dự kiến về lạm phát. Vì vậy mức cầu về nguồn vốn tăng lên, mức cung các nguồn vốn vay giảm đi, lãi suất thị trường tăng. Do lợi ích từ các trái phiếu hiện hữu tăng, giá các trái phiếu này giảm đi. Những người nắm giữ trái phiếu dự kiến đồng nội tệ yếu đi sẽ không muốn nắm giữ trái phiếu.
Lý do là giá trị thị trường của trái phiếu sẽ giảm đi nếu đồng nội tệ yếu đi. Điều này làm cho lãi suất tăng bởi vì các nhà đầu tư yêu cầu mức tỷ suất sinh lợi cao hơn để bù đắp rủi ro do lạm phát. Kết quả có thể một khoản bán ra các trái phiếu ngay tức khắc, và sẽ tạo áp lực làm giảm giá trái phiếu hơn nữa. Tóm lại, tác động của các dự báo tỷ giá đối với giá trị cổ phiếu của một công ty tùy thuộc vào: - Mức độ xuất hay nhập khẩu mà các công ty này thực hiện.
- Thành tố của các thị trường nhập và xuất khẩu. - Sự có sẵn của các sản phẩm thay thế hàng nhập hay xuất khẩu. - Mức độ công ty hành động để bảo vệ các lưu lượng tiền tệ của mình trước các biến động của tỷ giá. - Doanh số và thu nhập tương đối phát sinh từ các công ty con ở nước ngoài.
7 - Thành tố có tính địa phương của các công ty con. - Mức rủi ro có thể có của công ty do các điều kiện kinh tế như lạm phát hay lãi suất. Một số công ty có thể phòng ngừa rủi ro đối với giá cổ phiếu do tỷ giá thay đổi, trong khi các công ty khác lại tận dụng được các thành quả từ những thay đổi này.4 Thị trường tín dụng Tỷ giá tác động đến thị trường tín dụng thông qua các hoạt động liên quan đến ngoại tệ của các tổ chức tín dụng. Khi tỷ giá hối đoái hoặc lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng tăng, người dân sẽ có nhu cầu cao về ngoại tệ và có thể sẽ gia tăng gửi tiết kiệm vào các tổ chức tín dụng.
Đối với các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có kinh doanh xuất nhập khẩu, có nhu cầu về ngoại tệ cao hơn các đối tượng doanh nghiệp kinh doanh thuần túy trong nước.