ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là một trong những rối loạn thường gặp nhất trong cộng đồng, liên quan chặt chẽ đến nhiều bệnh tim mạch nặng nề và nguy hiểm khác. Tần suất tăng huyết áp vẫn không ngừng gia tăng không những trên thế giới mà ngay tại nước ta. Trên toàn cầu hiện có 1 tỷ người tăng huyết áp và dự kiến sẽ tăng 1. Năm 2015 với khoảng 10 triệu người tử vong, trong đó có 4,9 triệu người do bệnh mạch vành và 3,5 triệu người do đột quỵ [28].
Bệnh không lây nhiễm trong đó có bệnh tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn cầu, là một trong những thách thức và gánh nặng bệnh tật chủ yếu của các nước trên thế giới trong thế kỷ 21 [7]. Tăng huyết áp là một trong những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được [76]. Theo các nghiên cứu trước đây, điều trị tăng huyết áp làm giảm tỷ lệ đột quỵ từ 30%–40% [57]. Vì vậy, để ngăn ngừa bệnh tật và tử vong thì việc kiểm soát tăng huyết áp là yếu tố quan trọng.
Trên thế giới, mặc dù việc điều trị tăng huyết áp rất hiệu quả, nhưng việc tuân thủ là không tốt. Ước tính mức độ mà người bệnh tuân thủ điều trị tăng huyết áp khoảng từ 50 đến 70% [57]. Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc điều trị tăng huyết áp trong một số nghiên cứu như sau: Vương quốc Anh là 79% [72], Nigeria là 61,2% [55], ở Brazil là 45,1% [60]. Người ta ước tính rằng có tới 50% đến 80% bệnh nhân tăng huyết áp được kê đơn thuốc hạ huyết áp chứng tỏ sự tuân thủ điều trị dưới mức tối ưu [63].
Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị ở người bệnh tăng huyết áp, theo đó nhìn chung tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp tuân thủ điều trị còn rất hạn chế. Trong nghiên cứu của của Trần Thị Mỹ Hạnh năm 2017 cho biết chỉ có 28,4% người bệnh tuân thủ điều trị tăng huyết áp [17]. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thơm năm 2017 tỷ lệ tuân thủ điều trị chung tại bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh đạt 79,6% [17]. Nghiên cứu của Ngô Vương Hoàng Giang năm 2020 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị đúng tất cả nội dung là 15,2% [15].
Tuân thủ điều trị là một yếu tố quan trọng trong việc đạt được kiểm soát 2 huyết áp và giảm các biến chứng của tăng huyết áp. Sự thiếu tuân thủ trong điều trị của người bệnh tăng huyết áp gây ra hậu quả là gia tăng biến chứng của tăng huyết áp gây tổn thương cơ quan đích như tim, não, thận và tăng tỷ lệ tử vong. Không tuân thủ điều trị là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến không kiểm soát được huyết áp [80]. Nhiều yếu tố đã được tìm thấy có liên quan đến sự tuân thủ và những điều này đã được xem xét rộng rãi.
Những yếu tố quyết định tiềm năng của tuân thủ có thể liên quan đến: yếu tố nhân khẩu học như tuổi tác và giáo dục, sự hiểu biết của người bệnh và nhận thức về tăng huyết áp, chế độ chăm sóc sức khỏe, cơ sở y tế cung cấp điều trị, mối quan hệ giữa người bệnh và nhân viên y tế, hệ thống chăm sóc sức khỏe; phác đồ điều trị tăng huyết áp phức tạp, khả năng dung nạp thuốc, tác dụng phụ của thuốc, chi phí thuốc và thời gian điều trị, thiếu hiểu biết về nhu cầu điều trị thường xuyên và niềm tin vào điều trị. Xác định được các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ điều trị tăng huyết áp từ đó xây dựng chương trình can thiệp để cải thiện sự tuân thủ điều trị và và kiểm soát huyết áp [80]. Vì thế nghiên cứu tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp ở các quốc gia cũng như ở Việt Nam là rất quan trọng. Qua tìm hiểu tôi thấy tại huyện Lạc Sơn chưa có nghiên cứu nào về sự tuân thủ điều trị ở người bệnh tăng huyết áp.
Vậy hiện nay thực trạng tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp ở người bệnh điều trị ngoại trú như thế nào? Những yếu tố nào liên quan tới thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh? Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở người bệnh ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Lạc Sơn, Hòa Bình năm 2024 và một số yếu tố liên quan” với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2024. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về bệnh tăng huyết áp 1. Định nghĩa tăng huyết áp Khi một người trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) có số đo huyết áp tối đa (tâm thu) trên 140mmHg và/hoặc huyết áp tối thiểu (tâm trương) trên 90mmHg hoặc đang phải dùng thuốc hạ huyết áp, thì người đó được coi là tăng huyết áp [25]. Phân loại mức độ tăng huyết áp theo chỉ số huyết áp Bảng 1. Phân độ tăng huyết áp theo Hội tim mạch học Việt Nam (dựa vào trị số huyết áp do cán bộ y tế đo được) Phân độ huyết áp HATT (mmHg) HATTr (mmHg) HA tối ưu < 120 và <80 HA bình thường 120-129 và/hoặc 80-84 Tiền THA 130-139 và/hoặc 85-89 THA độ 1 (nhẹ) 140-159 và/hoặc 90-99 THA độ 2 (Trung bình) 160-179 và/hoặc 100-109 THA độ 3 (nặng) ≥ 180 và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 và <90 (nguồn: Bộ Y tế (2010), Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp [6]) 1.
Triệu chứng lâm sàng của bệnh tăng huyết áp Tăng huyết áp thường không có triệu chứng rõ ràng. Triệu chứng quan trọng nhất là đo HA thấy tăng. Chỉ có một số ít người bệnh THA là có một số triệu chứng cơ năng gợi ý cho họ đi khám bệnh như: - Đau đầu: đau khu trú vùng trán, chẩm hoặc thái dương, có khi đau nửa 4 đầu, thường đau về đêm, đau tăng khi bị các kích thích mạnh như ồn ào, tức giận.đau âm ỉ nhưng cũng có khi đau dữ dội. - Ù tai, hoa mắt, chóng mặt.
- Đi lại loạng choạng không vững. - Hay quên, trí nhớ giảm, tập trung chú ý giảm. - Rối loạn vận mạch: tê tay chân, mất cảm giác, run đầu chi. - Rối loạn thận kinh thực vật: hay có cơn bốc hỏa, đỏ mặt, nóng bừng người.thường gặp về đêm [1].
Biến chứng của tăng huyết áp - Tim mạch: Suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và nguyên nhân gây tử vong cao nhất đối với tăng huyết áp. - Não: Tai biến mạch não, thường gặp như nhũn não, xuất huyết não, tai biến mạch não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú chỉ kéo dài không quá 24 giờ hoặc bệnh não do THA với lú lẫn, hôn mê kèm theo co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội. - Thận: Vữa xơ động mạch thận sớm và nhanh, xơ thận gây tình trạng suy thận dần dần, hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính. Ở giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và angiotensine II trong máu gây cường aldosterone thứ phát.
- Mạch máu: Tăng huyết áp là yếu tố sinh vữa xơ động mạch, tạo điều kiện cho sự hình thành vữa xơ động mạch. Phồng động mạch chủ, bóc tách. - Mắt: Khám đáy mắt rất quan trọng vì đó là dấu hiệu tốt để tiên lượng, bao gồm: Mờ mắt, xuất huyết, xuất tiết và phù gai thị [1], [6]. Điều trị tăng huyết áp 1.
Nguyên tắc điều trị tăng huyết áp Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài. Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu”, “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là < 140/90 mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung 5 nạp được. Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì huyết áp mục tiêu cần đạt là < 130/80 mmHg. Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời.
Điều trị cần hết sức tích cực ở người bệnh đã có tổn thương cơ quan đích. Không nên hạ HA quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu. Giải quyết nguyên nhân tăng huyết áp thứ phát Kiểm tra huyết áp thường xuyên để có thái độ xử trí kịp thời [1] [6]. Phương pháp điều trị • Điều trị không dùng thuốc Thay đổi lối sống một cách hợp lý là phương pháp chủ yếu để phòng ngừa, cũng như điều trị THA.
Đây là biện pháp an toàn và có hiệu quả giúp làm chậm hoặc phòng ngừa THA ở người chưa bị THA, làm chậm hoặc phòng dùng thuốc ở người bệnh THA độ 1, giúp giảm HA ở người THA đang điều trị thuốc, giảm liều và tác dụng phụ của thuốc. Bên cạnh hiệu quả giảm HA, thay đổi lối sống còn giúp kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch và các bệnh khác, giảm nguy cơ tim mạch tổng thể [36], [49]. Ở người bệnh THA độ 1, không có biến chứng bệnh tim mạch và không có tổn thương cơ quan đích, đáp ứng với thay đổi lối sống xảy ra sau 4-6 tháng đầu. Nên bắt đầu biện pháp thay đổi lối sống đồng thời với việc dùng thuốc ở người bệnh THA nặng.
Thay đổi lối sống bao gồm: - Giảm cân nặng và vòng eo. - Hạn chế uống rượu bia. - Tăng cường vận động thân thể. - Tăng cường ăn rau xanh, trái cây.
- Ngừng hút thuốc lá, thuốc lào. - Giảm chất béo toàn phần, nhất là chất béo bão hòa. - Tránh căng thẳng [1] [6] [36] [81] Thay đổi lối sống phải được thực hiện ngay ở tất cả người bệnh với huyết 6 áp bình thường cao và THA. Hiệu quả của thay đổi lối sống có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm khởi phát THA và giảm các tim mạch [28].
Điều trị bằng thuốc hạ huyết áp - Mục đích dùng thuốc là nhằm hạ huyết áp vì HA càng cao nguy cơ càng lớn, có thể sử dụng đơn trị liệu hoặc phối hợp. - Việc chọn lựa thuốc hoặc phối hợp cần dựa vào các nguyên tắc như sau: + Người bệnh đã quen dùng nhóm thuốc đó. + Tác dụng đặc hiệu của nhóm thuốc trên nguy cơ tim mạch của người bệnh.