CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổ ng quan về tăng huyế t áp 1. Huyế t áp Huyết áp là áp lực cần thiết tác động lên thành của động mạch để đưa máu từ tim đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Huyết áp được tạo ra do lực co bóp của cơ tim và sức cản của thành động mạch.
Mặc dù huyết áp trung bình của một người không đổi nhưng nó cho thấy những dao động nhỏ trong suốt cả ngày - giảm khi đang thư giãn và tăng trong giây lát khi đang phấn khích hoặc căng thẳng. Huyết áp ban đêm thường thấp hơn ban ngày. Huyết áp tăng khi hoạt động, giảm khi nghỉ ngơi [6]. Tăng huyế t áp * Tăng huyết áp Khái niệm tăng huyết áp (Theo JNC VII): Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg [7].
* Tăng huyết áp tâm thu đơn độc Đối với người lớn tuổi huyết áp tâm thu có xu hướng tăng, huyết áp tâm trương có xu hướng giảm. Khi trị số của huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và huyết áp tâm trương ≤ 90 mmHg, được gọi là THA tâm thu đơn độc. Tỷ lệ THA tâm thu đơn độc khác nhau ở các nghiên cứu, nhưng thường thấp [7]. * Tăng huyết áp tâm trương đơn độc: Thường xảy ra ở tuổi trung niên, THA tâm trương được định nghĩa khi HATT ≤140 mmHg và HATTr ≥90 mmHg.
Một số tiền cứu cho thấy THA tâm trương đơn độc thường lành tính, nhưng vấn đề này còn đang tranh luận [7]. Phân loại tăng huyết áp Trên thực tế, có 2 cách phân loại THA được dùng phổ biến, gồm có phân loại dựa trên nguyên nhân và phân loại dựa trên mức chỉ số huyết áp. 4 * Theo nguyên nhân: - THA tự phát (tiên phát), không rõ nguyên nhân (vô căn) gọi là bệnh THA, chiếm khoảng 95% số bệnh nhân THA. - THA thứ phát là THA có nguyên nhân chiếm 5% trường hợp bị THA.
Với nhóm tăng huyết áp thứ phát, nhiều nguyên nhân đã được biết đến như hẹp động mạch chủ, bệnh mạch máu thận, suy thận, hội chứng cường Aldosterol, u tủy thượng thận [6]. * Phân loại dựa trên mức chỉ số huyết áp. Phân độ THA dựa vào chỉ số huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương hoặc chỉ một trong hai. Khi huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ khác nhau thì chọn mức cao hơn để xếp loại.
THA tâm thu đơn độc cũng được đánh giá theo mức biến động của huyết áp tâm trương. Phân độ THA ở người lớn theo WHO [8] Phân đô ̣ THA Huyế t áp theo WHO HATT(mmHg) HATTr(mmHg) Tố i ưu <120 <80 Bin ̀ h Thường <130 <85 Tiề n THA 130-139 85-89 THA đô ̣ 1 140-159 90-99 THA đô ̣ 2 160-179 100-109 THA đô ̣ 3 ≥180 ≥110 THA tâm thu đơn đô ̣c ≥140 ≤90 5 Bảng 1. Phân loại huyết áp ở người ≥ 18 tuổi theo JNC VII [7] Phân đô ̣ THA HATT(mmHg) HATTr(mmHg) Huyế t áp bình thường <120 <80 Tiề n THA 120-139 80-89 THA đô ̣ I 140-159 90-99 THA đô ̣ II ≥160 ≥100 Việc phân nhóm tiền THA của WHO rất có ý nghĩa dựa trên nhiều bằng chứng nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong do bệnh lý về mạch vành trong nhóm đối tượng có chỉ số này cao hơn có ý nghĩa so với mức huyết áp bình thường. Những người tiền tăng huyết áp nếu không đưa được huyết áp về bình thường sẽ tiến triển thành THA thực sự.
Nhóm này được khuyến cáo cải thiện tình trạng huyết áp thông qua thay đổi lối sống. Điều trị tăng huyết áp *Mục tiêu điều trị THA ở người lớn - Mục tiêu điều trị THA là chọn phương thức điều trị có chứng cứ giảm tối đa nguy cơ lâu dài toàn bộ về bệnh suất và tử suất tim mạch, tử vong chung. - Xác định ngưỡng HA ban đầu cần điều trị và đich HA cần đạt theo cá nhân hóa: Dựa vào độ THA, bệnh phối hợp và nhóm tuổi. Điều trị kiểm soát cùng lúc tất cả các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm và các bệnh đồng mắc theo các khuyến cáo hiện hành.
- Xác định các yếu tố cản trở sự tuân thủ điều trị [6], [9]. *Điều trị không dùng thuốc Thay đổi lối sống phải được thực hiện ngay ở tất cả bệnh nhân với huyết áp bình thường cao và THA. Hiệu quả của thay đổi lối sống có thể ngăn ngừa 6 hoặc làm chậm khởi phát THA và giảm các biến cố tim mạch. Thay đổi lối sống cũng là bước đầu tiên của phác đồ điều trị bệnh tăng huyết áp.
Thay đổi lối sống có thể nâng cao hiệu quả của điều trị bệnh tăng huyết áp. Việc thay đổi lối sống nên bao gồm các vấn đề theo hướng dẫn [6]: - Giảm cân được khuyến cáo cho huyết áp bình thường cao (tiền THA) và THA cho những người có thừa cân hoặc béo phì, duy trì BMI 20-25kg/m2, vòng eo < 94 cm ở nam và < 80 cm ở nữ. - Tiết thực chế độ ăn có lợi cho tim mạch: ăn một chế độ ăn giàu ngũ cốc, trái cây, rau, chất béo không bão hòa và các sản phẩm từ sữa và giảm thực phẩm nhiều đường, chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa, như chế độ ăn DASH. Tăng lượng rau có hàm lượng nitrat cao được biết là làm giảm HA, chẳng hạn như rau lá và củ cải đường.
Các thực phẩm và chất dinh dưỡng có lợi khác bao gồm những loại chứa nhiều magiê, canxi và kali như bơ, các loại hạt, hạt, đậu và đậu phụ [9]. - Hạn chế ăn mặn đối với THA và tiền THA <5g muối/ngày. - Bổ sung kali ưu tiên ăn giàu chất kali cho THA và tiền THA ngoại trừ có bệnh thận mạn hay tăng kali máu hay dùng thuốc giữ kali máu. - Tăng cường hoạt động thể lực với một chương trình hợp lý (30p/ngày).
- Người bệnh THA và tiền THA được khuyến khích dùng rượu bia theo tiêu chuẩn không quá 2 đơn vị/ngày ở nam và 1 đơn vị/ngày ở nữ. - Ngưng hút thuốc lá và tránh nhiễm độc khói thuốc. *Điều trị bằng thuốc hạ huyết áp Hầu hết bệnh nhân THA cần điều trị thuốc hạ áp cùng với thay đổi lối sống để đạt hiệu quả kiểm soát tối ưu. Năm nhóm thuốc có hiệu quả giảm HA và các biến cố tim mạch qua các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nên được chỉ định chính điều trị hạ áp.
Mặc dù liệu pháp dùng thuốc hạ áp đã chứng minh có hiệu quả nhưng tỷ lệ kiểm soát HA chung vẫn còn kém, nên 7 cần có chiến lược kết hợp thuốc cố định liều sớm với một phác đồ đơn giản nhằm gia tăng sự tuân thủ điều trị [6]. Thực trạng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ở Việt Nam và trên thế giới 1. Tỷ lệ mắc Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây ra các bệnh tim mạch và tử vong sớm trên toàn thế giới. Do việc sử dụng rộng rãi các loại thuốc điều trị THA, HA trung bình toàn cầu không đổi hoặc giảm nhẹ trong bốn thập kỷ qua.
Ngược lại, tỷ lệ THA ngày càng tăng, đặc biệt là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Ước tính trên toàn thế giới có khoảng 1,56 tỷ người bị THA vào năm 2025 [10]. Tỷ lệ THA ở người trưởng thành ở các nước thu nhập thấp và trung bình (31,5%, 1,04 tỷ người) cao hơn ở các nước thu nhập cao (28,5%, 349 triệu người). Tuy nhiên mức THA dường như mới là yếu tố nguy cơ với các biến chứng nặng nề về tim mạch và đột quỵ não [3].
Số người ở độ tuổi 30–79 bị tăng huyết áp đã tăng gấp đôi từ năm 1990 đến năm 2019, từ 331 (khoảng tin cậy 95% 306–359) triệu phụ nữ và 317 (292– 344) triệu nam giới vào năm 1990 lên 626 (584–668) triệu phụ nữ và 652 (604– 698) triệu nam giới vào năm 2019, mặc dù tỷ lệ hiện mắc chuẩn hóa theo độ tuổi trên toàn cầu ổn định. Năm 2019, tỷ lệ tăng huyết áp chuẩn hóa theo tuổi thấp nhất ở Canada và Peru đối với cả nam và nữ; ở Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia ở Tây Âu bao gồm Thụy Sĩ, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh cho phụ nữ; và ở một số quốc gia có thu nhập thấp và trung bình như Eritrea, Bangladesh, Ethiopia và Quần đảo Solomon dành cho nam giới [3]. Trên toàn cầu, 59% (55–62) phụ nữ và 49% (46–52) nam giới bị tăng huyết áp đã báo cáo chẩn đoán tăng huyết áp trước đó vào năm 2019, và 47% (43–51) phụ nữ và 38% (35–41) nam giới được điều trị. Tỷ lệ kiểm soát ở những người bị tăng huyết áp năm 2019 là 23% (20–27) đối với nữ và 18% (16–21) 8 đối với nam.
Năm 2019, tỷ lệ điều trị và kiểm soát cao nhất ở Hàn Quốc, Canada và Iceland (điều trị >70%; kiểm soát >50%), tiếp theo là Hoa Kỳ, Costa Rica, Đức, Bồ Đào Nha và Đài Loan. Tỷ lệ điều trị dưới 25% đối với phụ nữ và dưới 20% đối với nam giới ở Nepal, Indonesia và một số quốc gia ở châu Phi cận Sahara và châu Đại Dương. Tỷ lệ điều trị và kiểm soát đã được cải thiện ở hầu hết các quốc gia kể từ năm 1990, nhưng rất ít thay đổi ở hầu hết các quốc gia khu vực châu Phi cận Sahara và Châu Đại Dương. Cải thiện lớn nhất ở các quốc gia có thu nhập cao, Trung Âu và một số quốc gia có thu nhập trung bình cao và thu nhập cao gần đây bao gồm Costa Rica, Đài Loan, Kazakhstan, Nam Phi, Brazil, Chile, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran [11].
Tại Đông Nam Á, bệnh THA đang gia tăng mạnh mẽ trong hai thập kỷ qua. Khoảng một phần ba số người trưởng thành hiện được chẩn đoán mắc bệnh tăng huyết áp và ước tính có khoảng 1,5 triệu ca tử vong có liên quan đến tăng huyết áp hàng năm [12]. Việt Nam hiên nay có khoảng 25% dân số mắc bệnh về tim mạch và tăng huyết áp. Trong đó có khoảng 17 triệu người bị tăng huyết áp, tức là cứ bốn người trưởng thành thì có một người mắc.
Tăng huyết áp là nguyên nhân chủ yếu gây tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim và các bệnh tim mạch này đang là nguyên nhân tử vong số một tại Việt Nam, chiếm trên 35% tổng số ca tử vong toàn quốc. Đặc biệt, trong 17 triệu người mắc tăng huyết áp ở cộng đồng thì có tới trên 50% chưa được phát hiện và trên 70% chưa được điều trị.