Phần Mở đầu, Phần thứ nhất và Phần thứ hai nghiên cứu các đơn vị từ vựng như những chỉnh thể hình thức (phần I) và ý nghĩa (phần II) - cũng là sự nghiên cứu các đơn vị tách biệt của từ vựng; Phần thứ ba và thứ tư nghiên cứu toàn bộ từ vựng như hệ thống của những đơn vị tách biệt trên; Và Phần thứ năm có tính chất là phần ứng dụng và thử nghiệm. Trong cuốn giáo trình đồ sộ này, Đỗ Hữu Châu đã dành ra cả chương IX thuộc Phần thứ ba - hệ thống từ vựng hệ thống ý nghĩa để nói về các trường nghĩa. Trong chương IX tác giả đã nêu khái niệm “trường nghĩa” và cách phân 5 c loại các trường nghĩa căn cứ vào hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ học mà F.de Saussure đã chỉ ra là quan hệ hình tuyến (quan hệ ngang) và quan hệ trực tuyến (quan hệ dọc), theo đó chia trường nghĩa thành hai loại: trường nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến). Trong trường nghĩa dọc có hai trường nghĩa nhỏ là trường biểu vật và trường biểu niệm.
Phối hợp trường nghĩa ngang và trường nghĩa dọc, ta có trường nghĩa liên tưởng. - Cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học (Nguyễn Thiện Giáp - chủ biên, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, Nxb Giáo dục, Hà Nội 2010) cũng dành sự chú ý cho trường từ vựng - ngữ nghĩa. Cụ thể: Trong Chương bốn: Từ vựng, Mục B: Ý nghĩa của từ và ngữ, VII - Trường nghĩa (trang 108 - 112), tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã trình bày một số cách hiểu về trường nghĩa như sau: Lí thuyết trường nghĩa ra đời vào mấy chục năm gần đây. Mục đích cơ bản của lí thuyết này là khảo sát từ vựng một cách hệ thống.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trường nghĩa, nhưng có thể quy vào hai khuynh hướng chủ yếu: a, Khuynh hướng thứ nhất quan niệm trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện. Đại diện cho khuynh hướng này là L. Hai ông chịu ảnh hưởng nhiều của học thuyết về “hình thái bên trong của ngôn ngữ” của H.Humbold mà theo quan niệm của tác giả này, là cái phản ánh “tinh thần” của một dân tộc nào đó. Đây là một quan điểm có những hạn chế nhất định khi nhìn nhận mối quan hệ giữa trường khái niệm và trường từ vựng, tức là bình diện nội dung và bình diện biểu hiện.
b, Khuynh hướng thứ hai cố gắng xây dựng lí thuyết trường nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học.Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa. 6 c Những trường nghĩa được xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ có thể được phân biệt thành những kiểu khác nhau: - Trường từ vựng - ngữ pháp - Trường cấu tạo từ - Trường từ vựng - cú pháp Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là cái được gọi là “nhóm từ vựng - ngữ nghĩa”. Tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa có thể rất khác nhau. Chẳng hạn, có thể dựa vào sự tồn tại của các từ biểu thị các khái niệm ở dạng chung nhất, trừu tượng nhất và trung hòa.
Bên cạnh những nhóm từ vựng - ngữ nghĩa với các từ khái quát như trên, người ta còn tập hợp các từ thành một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa trên cơ sở một khái niệm chung có mặt ở trong mỗi một từ của nhóm này. Có người còn xếp cả từ loại và các tiểu loại của một từ loại vào những nhóm từ vựng - ngữ nghĩa, bởi cho rằng các từ thuộc một từ loại hoặc một tiểu loại cũng có cùng ý nghĩa khái quát chung. Những loạt đồng nghĩa, trái nghĩa thực chất cũng là một kiểu đặc biệt của các nhóm từ vựng - ngữ nghĩa. Đặc biệt, một số tác giả cũng coi là trường nghĩa cả những kết cấu ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa.
Giữa các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa thường có một yếu tố ngữ nghĩa chung, tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa. Toàn bộ các nghĩa khác nhau của một từ tạo ra một trường nghĩa nhỏ nhất. Ngoài ra phải kể đến một số công trình tiêu biểu như: - Năm 1973, Đỗ Hữu Châu có công trình Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa. - Năm 1975, Đỗ Hữu Châu tiếp tục trình bày cụ thể về trường và việc nghiên cứu từ vựng.
Các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu đã cung cấp một hệ thống lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa. Trường từ vựng ngữ nghĩa được chia 7 c làm bốn loại, căn cứ vào các loại ý nghĩa của từ bao gồm: trường nghĩa biểu vật; trường nghĩa biểu niệm; trường nghĩa tuyến tính; trường nghĩa liên tưởng. Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết này để nghiên cứu tiếng Việt. Đặc biệt, trường nghĩa liên tưởng được áp dụng nhiều khi nghiên cứu tác phẩm văn học.
Ví dụ một số công trình tiêu biểu như: - Năm 1988, Nguyễn Đức Tồn có luận án PTS Trường từ vựng bộ phận cơ thể người. - Năm 1996, Nguyễn Thúy Khanh có luận án PTS Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật. - Năm 1999, Đinh Thị Oanh bảo vệ luận văn Thạc sĩ Cấu trức ngữ nghĩa của vị từ thuộc trường “thực vật”. - Năm 2002, Nguyễn Đức Tồn xuất bản công trình Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt.
ở chương thứ 8 đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa của trường gọi thực vật. - Năm 2007, Đỗ Thị Kim Liên có bài báo Trường ngữ nghĩa biểu hiện quan niệm về nữ giới trong tục ngữ Việt (Đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống; số 6 (140) - 2007). - Năm 2007, Phan Thị Thúy Hằng bảo vệ luận văn Thạc sĩ Trường từ vựng tên gọi các loại cây trong ca dao của người Việt. - Năm 2008, Lê Thị Thanh Nga bảo vệ luận văn Thạc sĩ Đặc điểm lớp từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ vật dụng - biểu tượng tình yêu trong ca dao tình yêu lứa đôi.
- Năm 2009, Hoàng Anh, Nguyễn Thị Yến có bài báo Trường nghĩa ẩm thực trong các bài báo viết về bóng đá (Đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 7 (165) - 2009). - Năm 2010, Trần Thị Mai có bài báo Trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận (Đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2 (171+172) - 2010) 8 c. Như vậy, có thể thấy trường từ vựng, ngữ nghĩa là những vấn đề được các nhà ngôn ngữ học rất chú ý tìm hiểu. Lý thuyết trường được vận dụng vào nghiên cứu với vai trò là cơ sở để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu khác nhau: chỉ ra các đặc trưng văn hóa và mối quan hệ ngôn ngữ - tư duy; đặc điểm từ vựng của ngôn ngữ; ngôn ngữ thơ.
Những phương diện này cũng được chú ý trong tiếng Việt. Những nghiên cứu về dân tộc Tày và tiếng Tày ở Việt Nam 1. Những nghiên cứu về dân tộc Tày Nguồn gốc, các đặc điểm văn hoá của dân tộc Tày đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà dân tộc học. Có thể kể đến một số công trình đã được hoàn thành có liên quan đến dân tộc Tày như sau: - Lã Văn Lô, Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H.
- Viện Dân tộc học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), Nxb Khoa học xã hội, H. - Lã Văn Lô, Hà Văn Thư (1984), Văn hóa Tày - Nùng, Nxb Văn hóa, H. - Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình của các dân tộc Tày, Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H. - Nguyễn Chí Huyên (2000), Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, H.
- Hoàng Tuấn Nam, Bế Thanh Tuyền (2001), Việc dựng vợ gả chồng của người Tày Cao Bằng, Trung tâm văn hóa thông tin tỉnh Cao Bằng. … Văn nghệ dân gian Tày cũng là một lĩnh vực hấp dẫn đã và đang thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Có thể kể đến các tác phẩm: 9 c - Nông Minh Châu, Vi Quốc Bảo(1963), Dân ca đám cưới Tày - Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc, H. - Triều Ân (1994), Ca dao Tày - Nùng, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.
- Triều Ân (1994), Truyện thơ Nôm Tày, Nxb Văn hóa Dân tộc, H. - Hoàng Ngọc La (chủ biên) (2000), Văn hóa dân gian Tày, Sở văn hóa Thông tin Thái Nguyên, TN. - Triều Ân, Hoàng Quyết (1996), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Tày, NXB Văn hóa dân tộc, H. - Triều Ân, Hoàng Quyết (1996), Từ điển văn hóa cổ truyền dân tộc Tày, Nxb Văn hóa dân tộc, H.
Các công trình trên cho thấy các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến lịch sử phát triển của dân tộc Tày cùng với vốn văn hóa tinh thần phong phú của họ. Có thể xem các tác phẩm như vậy đã góp phần quan trọng trong việc lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu ở một tộc người, để cho người đời nay và mai sau được biết và trân trọng. Những nghiên cứu về tiếng Tày Tiếng Tày thuộc nhóm Tày - Thái trung tâm, dòng Tày - Thái, họ Tai - Ka đai, là ngôn ngữ của một dân tộc có số dân đông nhất sau dân tộc Kinh, là phương tiện giao tiếp ngôn ngữ của các đồng bào ở miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang. Tiếng Tày đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt của các trí thức Tày.
Có thể kể đến một số công trình về tiếng Tày đã được hoàn thành như sau: - Nguyễn Hàm Dương (1970), Chức năng xã hội của tiếng Tày - Nùng, Ngôn ngữ, số 1. - Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo, Hoàng Chí (1971), Ngữ pháp tiếng Tày - Nùng, Nxb Khoa học xã hội, H. 10 c - Nguyễn Minh Thuyết, Lương Bèn, Nguyễn Văn Chiến (1971), Góp ý về việc cải tiến chữ Tày - Nùng, Ngôn ngữ, số 2, H. - Đoàn Thiện Thuật (1972), Hệ thống ngữ âm tiếng Tày - Nùng, Tìm hiều ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam - T1, Viện Ngôn ngữ học, H.
- Hoàng Văn Ma, Lục Văn Pảo (1984), Từ điển Tày - Nùng - Việt, Nxb Khoa học xã hội, H. - Cung Văn Lược (1992), Chữ Nôm Tày qua so sánh với chữ Hán và chữ Việt Nôm, Luận án PTS Khoa học ngữ văn, H.