mở đầu trình tự diễn đạt, đứng đầu văn bản hoặc cũng có thể đứng bất kì vị trí nào tùy theo chức năng mà nó đảm nhận. 9 Trong kết quả nghiên cứu sự liên kết giữa các câu, có 12 phương thức liên kết dựa theo các quan hệ liên kết được tổng kết trong bảng sau: [55, 286] Bảng tổng kết và phân loại hệ thống các phương thức liên kết văn bản Theo quan hệ liên kết Quan hệ liên hợp Quan hệ phụ thuộc Về ngữ nghĩa Về ngữ pháp Theo đơn vị liên kết Các phương thức Phương thức liên Phương thức liên kết chung kết hợp nghĩa liên kết trực Theo cách thức thể hiện nội dung thuộc Thể hiện liên kết hình thức thuần tuý 1. Lặp ngữ âm 2. Lặp ngữ pháp Thể hiện liên Liên kết chủ đề Duy trì 3.
Lặp từ vựng 5. Thế đại từ 7. Tỉnh lược kết nội dung 4. Thế đồng nghĩa 6.
Tỉnh lược yếu mạnh Phát triển 8. Liên tưởng Liên kết logic 10. Chức năng liên kết Chức năng của từ ngữ liên kết nói chung là làm cho chuỗi từ thành câu, chuỗi câu thành văn bản. Các phương thức liên kết hình thức, đặc biệt là “phép nối”, làm cho mối quan hệ giữa các đơn vị nghĩa thể hiện rõ ràng hơn, chặt chẽ hơn, tránh mơ hồ, đa nghĩa.
Các phương thức liên kết nội dung được thể hiện ở sự thống nhất chủ đề của văn bản, khiến cho văn bản hoàn chỉnh về nghĩa. Sự liên kết trong ngôn ngữ là vô cùng quan trọng, khi giao tiếp, sử dụng các phương tiện liên kết giúp cho ngôn ngữ thêm rõ ràng mạch lạc và chặt chẽ. Từ ngữ liên kết góp phần thể hiện mối quan hệ ngữ nghĩa và quan hệ ngữ pháp của các đơn vị liên kết. Trong câu và văn bản, có trường hợp bắt buộc phải có từ ngữ thể hiện mối quan hệ, có trường hợp thì không cần.
Có những trường hợp nếu không dùng từ ngữ liên kết thì sẽ dẫn đến sự mơ mồ về mối quan hệ giữa các thành phần. Đơn vị liên kết Theo quan niệm truyền thống, câu là cấp bậc cao nhất nên khái niệm liên kết cũng dừng lại ở cấp bậc câu, chỉ cần nắm vững các mô hình cấu tạo câu là có thể giao tiếp được. Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải vậy, ngay cả các câu, các đoạn văn cũng cần phải liên kết với nhau. Áp dụng hệ thống các phương thức liên kết câu để miêu tả các đơn vị thuộc các cấp bậc khác (giữa các hình vị, giữa các từ, giữa các cú, 10 giữa các phát ngôn, giữa các văn bản) ta thấy hầu hết các phương thức liên kết có mặt ở cấp bậc giữa các từ trở lên.
Theo Cao Xuân Hạo, các đơn vị gồm nét khu biệt, âm vị, hình vị và từ thuộc tôn ti đối vị, còn câu thì thuộc tôn ti cú pháp. Các đơn vị thuộc của các cấp bậc của tôn ti đối vị là hữu hạn, các đơn vị thuộc tôn ti cú pháp là vô hạn. Hệ thống ngôn ngữ gồm có các đơn vị cấp bậc lớn, đứng gián cách nhau là từ, câu, văn bản. Trong đó mỗi một đơn vị cấp bậc là một hệ thống.
Từ là hệ thống hữu hạn các đơn vị. Câu và văn bản là hệ thống vô hạn các đơn vị. Theo Trần Ngọc Thêm, trước hết ông xuất phát từ sự liên kết giữa các câu trong văn bản, sau đó ông mở rộng sang các cấp bậc trên câu và dưới câu. Câu và văn bản là hai đơn vị cấp bậc lớn của hệ thống ngôn ngữ.
Ở hai cấp bậc này lại có các đơn vị nhỏ hơn cấu tạo nên nó. Đơn vị cấu tạo câu gọi là đơn vị bậc câu, đơn vị cấu tạo văn bản gọi là đơn vị bậc văn bản. Còn từ và các đơn vị tham gia cấu tạo câu là đơn vị thuộc cấp bậc nhỏ nên gọi là đơn vị trong câu. Như vậy, có thể chia thành ba cấp bậc cơ bản sau: - Các đơn vị trong câu (còn gọi là các đơn vị cấp dưới câu): Gồm có từ, cụm từ, vế câu.
- Câu: Là đơn vị cao nhất thuộc cấp độ cú pháp của ngôn ngữ và lời nói. Hầu hết các định nghĩa đều cho rằng câu thể hiện một tư tưởng tương đối trọn vẹn. - Văn bản (gồm các đơn vị cấp trên câu, có thể là đoạn văn hoặc phần): Con người thể hiện tư tưởng của mình, thông báo chúng cho người khác dưới dạng các phát ngôn. Trong phần lớn các trường hợp, phát ngôn được cấu tạo từ chuỗi các câu có liên hệ qua lại với nhau, tạo nên một thể thống nhất trên câu.
Trong thể thống nhất trên câu, tính liên kết được thể hiện đặc biệt rõ ràng. THỂ LOẠI VĂN BẢN 2. Định nghĩa Sản phẩm của hoạt động lời nói là các kiểu văn bản, các thể loại văn bản và các phong cách chức năng. Các văn bản vốn được xây dựng theo một phong cách chức năng thường có nhiều thể loại.
Những thể loại văn bản này được phân biệt trên cơ sở sự khác biệt về nội dung, chức năng và hình thức, kết cấu của văn bản. Chẳng hạn 11 trong phong cách báo chí tồn tại các thể loại sau: Bản tin, bài bình luận, phóng sự, điều tra, ghi nhanh, ký chân dung, quảng cáo, ý kiến bạn đọc. Như vậy, chúng ta có thể hiểu nôm na thể loại văn bản là dạng tồn tại cụ thể của một văn bản thuộc một loại phong cách chức năng nhất định. Phân loại Chúng ta có thể phân chia thể loại văn bản dựa trên các tiêu chí sau: - Dựa trên chức năng giao tiếp: Để truyền đạt một thông tin cụ thể thì cần sử dụng thể loại thích hợp.
Ví dụ muốn xin việc làm thì phải viết một lá đơn xin việc thuộc thể loại đơn từ, nội dung và chức năng giao tiếp của văn bản còn phải tuỳ thuộc vào đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp, v. - Dựa trên hình thức thể hiện: + Cấu trúc (mang tính khuôn mẫu hay không khuôn mẫu, mức độ đơn giản hay phức tạp) + Thể văn (văn xuôi, văn vần) - Dựa vào phong cách chức năng: Có tất cả 6 loại phong cách chức năng cơ bản là phong cách chức năng khẩu ngữ, phong cách chức năng hành chính, phong cách chức năng chính luận, phong cách chức năng khoa học, phong cách chức năng báo chí và phong cách chức năng văn chương. - Dựa vào phạm vi giao tiếp: Có một số tác giả khi tiến hành phân chia các phong cách chức năng đã dựa vào phạm vi khác nhau của hoạt động giao tiếp. Chẳng hạn chia ra làm hai mức độ như sau: + Phạm vi giao tiếp có tính chất gia đình.
+ Phạm vi giao tiếp mang tính chất xã hội. Ở một số ngôn ngữ thì đặc điểm này hiện lên khá rõ, nhưng trong tiếng Việt thì không phải lúc nào cũng phân chia thành hai mức độ đối lập như vậy. Ví dụ, trong tiếng Việt có rất nhiều từ hô gọi vốn được dùng trong phạm vi giao tiếp gia đình lại được dùng khá phổ biến trong phạm vi giao tiếp xã hội như : ông, bà, cô, chú, anh, chị, v. Tuy nhiên đây chỉ là cách hô gọi thông thường, còn trong giao tiếp trang 12 trọng thì cách hô gọi cũng được phân biệt khá rõ ràng, chẳng hạn trong môi trường làm việc ở công sở thì phải hô gọi theo chức danh như giám đốc, chủ tịch, trưởng phòng, ngài, v.
Thể loại văn bản và phong cách chức năng Phân biệt thể loại văn bản và phong cách chức năng là một việc làm cần thiết, giúp chúng ta không lẫn lộn giữa các khái niệm thể loại văn bản với phong cách chức năng của văn bản, đồng thời phân biệt được một văn bản cụ thể thuộc thể loại nào, thuộc phong cách chức năng nào. Có thể nói rằng thể loại qui định phong cách chức năng, bất kỳ một thể loại nào cũng ứng với một phong cách chức năng nhất định. Ví dụ thể loại phóng sự sẽ ứng với phong cách chức năng báo chí, thể loại truyện ngắn sẽ ứng với phong cách chức năng văn chương,v. Các thể loại khác nhau thuộc các phong cách khác nhau có thể có chung một chủ đề.
Chẳng hạn có cùng một chủ đề về môi trường nhưng vừa có bài báo viết về tình trạng môi trường, lại vừa có cả đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến. Có thể thấy rằng cả hai bài viết này có phong cách khác nhau, một cái thuộc phong cách chức năng báo chí, một cái mang phong cách chức năng khoa học. Chúng ta thấy rằng bài báo viết về đề tài về nghiên cứu môi trường tùy theo nội dung và hình thức thể hiện mà chúng ta có thể xếp vào thể loại điều tra, phóng sự, tin tức. Rõ ràng nó khác thể loại với đề tài nghiên cứu khoa học vì mục đích viết khác nhau và chúng thuộc hai loại phong cách chức năng khác nhau.
Vì thế, dựa vào một số thể loại mà chúng ta cũng có thể phân chia phong cách chức năng khác nhau. Phong cách chức năng trong các ngôn ngữ thì tương tự như nhau, nhưng trong phong cách của từng ngôn ngữ thì có các thể loại không giống nhau. Định nghĩa phong cách: Phong cách là đặc điểm riêng của đối tượng hay hành động so với những cái cùng loại. Do đó từ “Phong cách” được dùng làm thuật ngữ cho nhiều ngành khoa học.
Trong ngôn ngữ học, người ta dùng các thuật ngữ như: phong cách khẩu ngữ, phong 13 cách chính luận… Nhiều khi do nội dung khoa học qui định, người ta dùng các thuật ngữ: phong cách chức năng , phong cách chức năng ngôn ngữ. Phong cách chức năng ngôn ngữ là một trong những vấn đề trung tâm và là một trong những phạm trù cơ bản nhất của phong cách học. Đôi khi nhờ văn cảnh cho phép và để giản tiện, người ta dùng thuật ngữ “phong cách ngôn ngữ “ hoặc “phong cách “ với ý nghĩa là “phong cách chức năng ngôn ngữ” Phong cách chức năng ngôn ngữ là dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc biểu thị qui luật lựa chọn, sử dụng các phương tiện biểu hiện tuỳ thuộc vào tổng hợp các nhân tố bên ngoài ngôn ngữ như hoàn cảnh giao tiếp, đề tài, mục đích giao tiếp, đối tượng tham gia giao tiếp. Cách phân chia các loại phong cách chức năng: Hiện nay, việc phân chia các phong cách chức năng gặp nhiều quan điểm khác nhau, ở mỗi tác giả khác nhau lại không có sự thống nhất.